Chương 1: Giới thiệu chung. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm nghiên cứu cấu trúc vốn. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam. Chương 5: Kết luận.
3 2 CHƯƠNG 2 3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CẤU TRÚC VỐN 2.1 Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được định nghĩa là một sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp đều theo đuổi một cấu trúc vốn mục tiêu dài hạn của mình, hay cũng chính là cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp đó. Đôi khi các doanh nghiệp cũng muốn thay đổi cấu trúc vốn hiện tại của họ sang một cấu trúc vốn mục tiêu mới, nhưng nhìn chung thì cấu trúc vốn hiện tại và cấu trúc vốn mục tiêu thường giống nhau.2 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu là hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Với cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, tổng giá trị của các chứng khoán của doanh nghiệp được tối đa hóa.
Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller Modigliani và Miller (MM) là tên hai nhà kinh tế nổi tiếng người Mỹ. Hai ông đã được giải Nobel kinh tế năm 1958. Nội dung nghiên cứu của MM chủ yếu xem xét mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị của doanh nghiệp. Định đề I của Modigliani và Miller (MM) cho rằng: giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc tài chính tức là việc sử dụng nợ hay vốn cổ phần không làm ảnh 4 hưởng đến giá trị của doanh nghiệp.
Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng sinh lời của các tài sản của công ty hơn là tài sản được tài trợ bởi nợ hay vốn cổ phần. Thị trường vốn mà MM giả định là thị trường hoàn hảo tức là: không có chi phí giao dịch, không có bất cân xứng thông tin, không có thuế thu nhập doanh nghiệp, không có chi phí phá sản, nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất, các doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh, các tài sản được định giá bằng nhau. Năm 1963, MM tiếp tục phát triển nghiên cứu của mình trong thị trường vốn bất hoàn hảo, thị trường mà chi phí lãi vay giúp doanh nghiệp được khấu trừ thuế thì giá trị doanh nghiệp sẽ tăng với đòn bẩy tài chính cao hơn. Mô hình này dựa trên tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp thì các doanh nghiệp hoạt động có lời nên sử dụng nợ nhiều hơn.
Tuy nhiên, việc gia tăng nợ sẽ dẫn đến khả năng phá sản cao hơn. Do đó, cấu trúc vốn tối ưu nghĩa là mức đòn bẩy có thể cân bằng được chi phí phá sản và lợi ích của việc tài trợ nợ.2 Lý thuyết đánh đổi Trong thị trường vốn bất hoàn hảo, việc lựa chọn cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp (Kraus và Litzenberger, 1973). Một mặt, tài trợ bằng nợ làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp bởi vì sử dụng nợ tạo nên một khoản lợi ích là hiện giá của tấm chắn thuế. Mặt khác, tài trợ bằng nợ làm giảm giá trị của doanh nghiệp bởi chi phí kiệt quệ tài chính.
Theo lý thuyết đánh đổi, cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn mà tại đó cân bằng giữa lợi ích tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính (Modigliani và Miller, 1963). Hiện giá (PV) tấm chắn thuế ban đầu tăng khi doanh nghiệp vay thêm nợ. Ở mức nợ trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính không đáng kể, và PV chi phí kiệt quệ tài chính cũng nhỏ và lợi thế thuế vượt trội. Nhưng tại một điểm nào đó, xác suất kiệt quệ tài chính tăng nhanh với việc vay nợ thêm, chi phí kiệt quệ bắt đầu chiếm một lượng lớn giá trị của doanh nghiệp.
Cũng vậy, nếu doanh nghiệp không thể chắc chắn hưởng lợi từ tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi thế thuế của nợ sẽ giảm đi và cuối cùng 5 biến mất. Điểm tối ưu lý thuyết đạt được khi hiện giá của khoản tiết kiệm thuế do vay nợ thêm vừa đủ bù trừ cho gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ. Giá trị DN có nợ theo lý thuyết Giá trị doanh M&M nghiệp (V) Hiện giá của chi phí kiệt quệ Giá trị doanh tài chính nghiệp tối đa Hiện giá của tấm chắn thuế GTDN không sử dụng nợ Nợ mục tiêu Nợ (D) Hình 2. 1 Tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp Nguồn: Sách TCDN hiện đại – chủ biên Trần Ngọc Thơ Chi phí kiệt quệ tài chính bắt nguồn từ rủi ro phá sản (Kraus và Litzenberger, 1973), chi phí đại diện (Jensen và Meckling, 1976) và chi phí phát tín hiệu (Ross, 1977).
Lý thuyết đánh đổi cân đối các lợi thế thuế của nợ vay với các chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Các công ty không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ phần.
Lý thuyết đánh đổi đã thành công trong việc giải thích các khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành. Thí dụ, công ty tăng trưởng công nghệ cao, có tài sản rủi ro và hầu hết là vô hình, thường sử dụng nợ tương đối ít. Các hãng hàng không có thể vay và thường vay nhiều vì tài sản của họ là hữu hình và tương đối an toàn. Tuy nhiên, lý 6 thuyết này lại không giải thích được tại sao các doanh nghiệp sinh lợi nhất trong cùng ngành thường có cấu trúc vốn bảo thủ nhất.
Theo lý thuyết đánh đổi, lợi nhuận cao có nghĩa là có nhiều khả năng vay nợ và có nhiều lợi nhuận chịu thuế để được khấu trừ và sẽ cho một tỷ lệ nợ mục tiêu cao hơn.3 Lý thuyết trật tự phân hạng: Lý thuyết trật tự phân hạng được thực hiện bởi Myers và Majluf (1984). Theo lý thuyết này, không có một cấu trúc vốn tối ưu cho tất cả các doanh nghiệp. Do bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các nhà đầu tư nên các nhà quản lý thích sử dụng nguồn tài trợ nội bộ hơn, chủ yếu là lợi nhuận để tái đầu tư, sau đó mới đến nợ và cuối cùng phát hành vốn cổ phần mới (Myers và Majluf, 1984; Rajan và Zingales, 1995). Theo Pettit và Singer 1985, các doanh nghiệp nhỏ thường có mức độ bất cân xứng thông tin hơn các doanh nghiệp lớn bởi vì các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp lớn thường đã được kiểm toán, trong khi các doanh nghiệp nhỏ thì không.
Vì vậy, khi các doanh nghiệp nhỏ phát hành cổ phiếu mới, chi phí phát hành này rất cao, trong khi sử dụng nguồn tài trợ nội bộ thì sẽ không phải mất khoản phí này. Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi nhất thường vay ít hơn - không phải vì họ có các tỷ lệ nợ mục tiêu thấp hơn, mà vì họ không cần tiền bên ngoài. Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn thường phát hành nợ vì các nguồn vốn nội bộ không đủ cho đầu tư và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng đạt tỷ lệ nợ thấp.
Các doanh nghiệp với cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn vốn phát sinh nội bộ thường buộc phải vay nợ ngày càng nhiều. Lý thuyết này giải thích mối tương quan nghịch trong ngành giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy tài chính. Lẽ thường các doanh nghiệp thường đầu tư theo mức tăng trưởng của ngành. Như vậy các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau trong cùng một ngành.
7 Với các tỷ lệ chi trả cổ tức cho sẵn và không thể linh hoạt được thì các doanh nghiệp sinh lợi ít nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải vay mượn thêm. Hầu hết các nghiên cứu đều đưa đến kết luận rằng, lý thuyết trật tự phân hạng hay lý thuyết đánh đổi đều không thể giải thích một cách chính xác và đầy đủ về quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp mà phải có sự kết hợp của cả hai lý thuyết này mới có cơ sở đầy đủ cho việc lựa chọn cấu trúc vốn doanh nghiệp.4 Lý thuyết chi phí đại diện Nghiên cứu này được khởi xướng bởi ensen và Meckling (1976) và Jensen (1986). Lý thuyết này nhìn nhận sự tồn tại cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp bởi sự có mặt của chi phí đại diện. Chi phí đại diện phát sinh từ 2 loại mâu thuẫn.
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa các cổ đông và người quản lý – còn gọi là chi phí đại diện vốn cổ phần. Thứ hai, mâu thuẫn giữa trái chủ và các cổ đông. Mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý: Jensen (1986) thừa nhận rằng, chi phí đại diện tăng cùng với dòng tiền tự do. Các cổ đông thích sử dụng dòng tiền tự do để đầu tư vào các dự án có NPV dương hay dùng để chi trả cổ tức.
Ngược lại, các nhà quản lý lại có khuynh hướng sử dụng dòng tiền tự do để đầu tư vào những dự án đem lại thu nhập thấp hơn chi phí sử dụng vốn nhưng những dự án đầu tư này làm tăng quyền lợi của họ. Mâu thuẫn giữa các cổ đông và các trái chủ: khi doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ phát sinh những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các cổ đông và trái chủ. Khi đó, nợ làm giảm chi phí đại diện giữa các cổ đông và các nhà quản lý, đồng thời làm tăng chi phí đại diện giữa các cổ đông và trái chủ. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, cả trái chủ lẫn các cổ đông đều mong muốn doanh nghiệp phục hồi nhưng ở các khía cạnh khác nhau.