CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY TẠI CÁC CÔNG TY THÀNH VIÊN 1.1 Một số khái niệm 1.1 Vốn của doanh nghiệp Vốn luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Các nhà kinh tế đều có những định nghĩa về vốn theo quan niệm riêng của mình. Theo David Begg (Kinh tế học, 2007) thì vốn bao gồm: vốn hiện vật và vốn tài chính doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ hàng hóa đã sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa khác, vốn tài chính là các tiền và các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa. Nó giống các hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó còn có đặc điểm khác là người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, giá của quyền sử dụng vốn chính là lãi suất, chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời. Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình đầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng.
Do có nhiều quan niệm về vốn nên rất khó định nghĩa một chính xác và hoàn chỉnh về vốn. Có rất nhiều khái niệm về vốn nhưng khái niệm được 7 chấp nhận rộng rãi nhất là: Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện dưới hình thái giá trị của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Theo thời hạn sử dụng tài sản của doanh nghiệp gồm tài sản ngắn hạn và dài hạn. Các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp gồm tài sản lưu động và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
Còn các loại tài sản dài hạn gồm các loại tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn (các khoản đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác). Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh còn được coi là một quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp. Từ khái niệm trên, có thể thấy đặc trưng của vốn như sau: - Vốn phải được đại diện cho một lượng tài sản, nghĩa là vốn được thể hiện bằng giá trị của những tài sản có thực (hữu hình hoặc vô hình). - Vốn phải được vận động sinh lời.
- Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới phát huy tác dụng. - Vốn có giá trị về mặt thời gian, nghĩa là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng tiền. - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: Khi gắn với chủ sở hữu nhất định thì vốn mới được sử dụng hợp lý và có hiệu quả. - Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được xem là hàng hóa đặc biệt.
Khác với các hàng hóa thông thường, vốn khi “bán ra” sẽ không bị mất đi quyền sở hữu mà mất đi quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định do hai bên thỏa thuận.2 Phân loại vốn của doanh nghiệp Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả người ta thường phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định. 8 Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ [7]. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm: Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bao gồm: vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn nhà nhà nước tài trợ (nếu có). Vốn chủ sở hữu được xác định là phần còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi đã trừ toàn bộ nợ phải trả.
Nợ là những khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như : nợ tiền vay ngân hàng, nợ các tổ chức kinh tế khác, thuế phải nộp cho nhà nước, nợ phải trả cho cán bộ công nhân viên… Phân loại theo phạm vi huy động vốn Dựa trên tiêu thức này, vốn được chi thành hai nguồn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp [8]. Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn huy động từ nội bộ doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng đảm bảo khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Nguồn vốn bên ngoài là nguồn vốn được huy động bên ngoài phạm vi doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân loại theo tài sản đầu tư: Theo tiêu thức này vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản lưu động (vốn lưu động), vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản cố định (vốn cố định) và vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính (vốn đầu tư tài chính) [18]. Vốn lưu động là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các loại 10 vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại tài sản lưu động khác của doanh nghiệp. Mỗi loại tài sản lưu động (TSLĐ) có vai trò, vị trí riêng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại đặc điểm chung là thời gian sử dụng ngắn, hình thức biểu hiện luôn bị thay đổi. Vì thế trong hoạt động đầu tư và quản lý TSLĐ cần chú ý đảm bảo tính cân đối, đồng bộ giữa chúng để có thể tối đa hóa năng lực sản xuất đồng thời tránh được tình trạng TSLĐ ứ đọng, chậm luân chuyển, bảo toàn giá trị của số vốn đầu tư.
Vốn cố định là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản cố định hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, các khoản chi phí mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm độc quyền, giá trị lợi thế về vị trí địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp…Trong doanh nghiệp, tài sản cố định (TSCĐ) được coi là hệ thống “xương cốt và bắp thịt” của sản xuất, là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Đầu tư và TSCĐ thường đòi hỏi số vốn lớn, thời gian sử dụng TSCĐ lại dài nên đòi hỏi phải cân nhắc kỹ hiệu quả đầu tư, bảo toàn và phát triển được vốn và hạn chế các tổn thất về hao mòn vô hình TSCĐ. Vốn đầu tư tài chính là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các tài sản tài chính (TSTC) như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác. So với TSLĐ và TSCĐ, các TSTC có tính thanh khoản cao hơn, tuy nhiên do đặc điểm chúng không phải là những tài sản thực mà chỉ là các loại giấy tờ có giá trị trao đổi, tức vật mang giá trị nên việc đầu tư vào các tài sản này luôn chứa đựng các rủi ro nhiều hơn so với đầu tư vào các tài sản thực.
Cách phân loại trên giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được cơ cấu tài sản đầu tư hợp lý, hiệu quả. Mọi đồng vốn kinh doanh chỉ sinh lời khi nó 11 được vật chất hóa thành các loại tài sản và được sử dụng trong kinh doanh. Đối với mỗi doanh nghiệp, cơ cấu đầu tư vào các tài sản kinh doanh thường không giống nhau do có sự khác biệt về đặc điểm ngành nghề kinh doanh, về tính đúng đắn trong lựa chọn quyết định đầu tư vào từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, muốn đạt được hiệu quả đầu tư cao, các doanh nghiệp vừa phải chú trọng đảm bảo tính cân đối, đồng bộ về năng lực sản xuất giữa các tài sản đầu tư, vừa phải đảm bảo tính hiệu quả, khả năng thanh khoản, khả năng phân tán rủi ro của tài sản đầu tư trong doanh nghiệp.3 Các hình thức đầu tư vốn của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể được sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân doanh nghiệp, song cũng có thể đầu tư ra bên ngoài (đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết trong doanh nghiệp hoặc đầu tư ra ngoài) nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Ngày 26/11/2014, Quốc hội thông qua Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014, trong đó quy định các hình thức đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp như sau: - Góp vốn để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; góp vốn thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh không hình thành pháp nhân mới; - Mua cổ phần tại công ty cổ phần, mua phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; - Mua toàn bộ doanh nghiệp khác; - Mua công trái, trái phiếu. Theo Luật đầu tư (2014) thì vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Có thể phân loại hình thức đầu tư của công ty mẹ vào các công ty con, công ty liên kết theo các hình thức sau: 12 Căn cứ vào mối liên hệ giữa chủ đầu tư và đối tượng đầu tư, các hình thức đầu tư thường được chia thành 2 loại là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà công ty mẹ bỏ vốn đầu tư, đồng thời tham gia quản lý hoạt động của đối tượng đầu tư.
Đầu tư trực tiếp có thể được thực hiện dưới các hình thức như: góp vốn kinh doanh để hình thành các pháp nhân kinh doanh mới (các công ty TNHH MTV hoặc nhiều thành viên); thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không hình thành pháp nhân mới; tiến hành hoạt động sáp nhập hoặc mua lại doanh nghiệp khác.