CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE TÁC DONG CUA CPTPP DEN XUAT KHẨU DA GIÀY 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về tác động của CPTPP Nguyễn Việt Phương (2019) đã tiến hành nghiên cứu về tác động của CPTPP đến ngành nông nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu đã trình bày các cơ hội CPTPP đem đến ngành nông nghiệp của Việt Nam: Hiệp định này sẽ đỡ bỏ hàng rào thuế quan ngay khi CPTPP có hiệu lực và theo lộ trình; Tạo động lực, sức ép cho doanh nghiệp trong nước tập trung vào chế biến, đầu tư vào phát triển chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, từ đó, nâng cao giá trị gia tăng, tăng cường xuất khẩu sản phẩm chế biến, giảm xuất khẩu thô, xuất khâu nguyên liệu; Tiếp tục duy trì và củng cô lợi thé của nước ta so với các quốc gia khác trong CPTPP về sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản nhiệt đới và cận nhiệt đới vì giá thành thấp, nguồn nguyên liệu đồi dào và nguồn nhân lực rẻ hơn các nước khác trong khối; CPTPP đem đến cơ hội để nước ta đầu tư nâng cao trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý bắt kịp với các nước còn lại trong khối, phát triển các khâu quản lý, quảng bá, marketing cho sản phẩm.
Nghiên cứu cũng đưa ra các thách thức CPTPP đặt ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam: các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với làn sóng cạnh tranh gay gắt đến từ các doanh nghiệp nước đối tác; CPTPP là một hiệp định thế hệ mới có phạm vi quy định toàn diện và tiêu chuẩn cao. Từ những cơ hội và thách thức, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho ngành Nông nghiệp Việt Nam: tích cực tìm hiểu, thông tin cho doanh nghiệp và người nông dân về nội dung hiệp định CPTPP; thay đổi tư duy kinh doanh, biến khó khăn thành động lực, biến sức ép cạnh tranh trên thị trường thành bài học dé đổi mới; tăng cường sức cạnh tranh của hàng nội dia bằng cách thúc đây sự kết nối và hợp tác liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước; tăng cường trình độ nguồn nhân lực bằng cách thúc day đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đến từ các trường đại học, cao đăng: chủ động xúc tiến thương mại va đầu tư, lựa chọn thị trường và đối tác dé thu hút vốn va tiếp cận công nghệ hiện đại; quan tâm đến van đề sở hữu trí tuệ nhăm đảo bảo quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Lê Vỹ Tường Vy (2020) thực hiện nghiên cứu đề tài về phân tích và dự báo các tác động của CPTPP đến các doanh nghiệp Bình Định. Tác giả tập trung phân tích và dự báo các cơ hội cũng như những thách thức cho các doanh nghiệp Bình Định khi tham gia vào Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.
Trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp đối với bản thân mỗi doanh nghiệp Bình Định cũng như chính sách hỗ trợ đối với Nhà nước, đặc biệt là vai trò của Sở Công thương tỉnh Bình Định trong chiến lược phát triển kinh tế của Tỉnh nhà. Nguyễn Xuân Hưng (2020) tiến hành nghiên cứu tác động của CPTPP đến xuất khâu thủy sản của Việt Nam. Từ những quy định của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) liên quan đến xuất khẩu thủy sản của một quốc gia thành viên, bài viết đã phân tích và dự báo những tác động của Hiệp định dé chi ra những cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số đề xuất hàm ý chính sách nhằm khai thác tác động của CPTPP dé tận dụng các co hội và vượt qua thách thức cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian tới.
Tạ Văn Lợi (2021) nghiên cứu về tác động các cam kết của hiệp định CPTPP đến năng lực cạnh tranh cap tinh (CPI) tại Việt Nam. Tác giả đã trình bày về kết quả công bố chỉ số CPI hàng năm tại Việt Nam. Sau đó, tác giả trình bày về các chỉ số thành phần của CPI và mức độ ảnh hưởng từ các cam kết của Việt Nam đối với Hiệp định CPTPP. Trên cơ sở đó, tác giả đã trình bày các kiến nghị và giải pháp tăng cường thực thi các cam kết của Hiệp định CPTPP đối với cạnh tranh tại Việt Nam.
Võ Lê Nam và Hà Thị Phương Trà (2020) thực hiện nghiên cứu về tác động của cam kết cắt giảm thuế quan nhập khâu trong CPTPP đối với Việt Nam. Trên cơ sở phân tích cam kết cắt giảm thuế quan nhập khẩu trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), bài viết nhận định răng, sự ảnh hưởng của việc mở cửa thị trường thương mại hàng hóa trong khuôn khô CPTPP đối với kinh tế Việt Nam, cũng như khả năng cạnh tranh của một số nhóm hàng sau khi giảm thuế, đặc biệt là các mặt hàng chủ lực, bao gồm may mặc, nông sản, thủy sản, sản phẩm điện, điện tử, khoáng sản và dầu khí, là không đáng kể. Tuy nhiên, Chính phủ cũng như các doanh nghiệp vẫn gặp phải những thách thức nhất định khi triển khai CPTPP. Bài viết đưa ra một số đề xuất chính sách dé Việt Nam có thé khai thác hiệu quả quy định về thuế quan nhập khâu của Hiệp định trong thời gian tới.
Phan Thanh Hoàn (2019) thực hiện báo cáo tóm tắt đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Huế về đánh giá tác động tiềm năng của CPTPP đến ngoại thương Việt Nam. Đề tài đã phân tích tác động của CPTPP đến ngoại thương và các ngành hàng xuất, nhập khâu chủ lực của Việt Nam, làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển ngoại thương nói chung và các ngành hàng xuất, nhập khẩu chủ lực nói riêng trong bối cảnh hội nhập CPTPP của Việt Nam. Trần Viết Long (2019), Nghiên cứu khoa học: “Tac động của các Hiệp định thương mại tự do FTAs đối với ngành dệt may của Việt Nam — Qua thực tiễn tại tinh Thừa Thiên Huế” đã đi sâu phân tích thực trạng, các rao cản khi các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên của các Hiệp định trong WTO (Hiệu định Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (1994), Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại, Hiệu định về Quy định xuất xứ); Hiệp định Thương mại tự do Asean (AFTA); Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam — Nhật Bản (VJEPA); Hiệp định thương mại Tự do Asean — Hàn Quốc (AKFTA); Hiệp định CPTPP và các hiệp định khác. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế, đề tài để xuất các giải pháp chiến lược tổng thể và cụ thể giúp các doanh nghiệp dệt may ở địa phương như HBI, Scavi, Dệt may Huế, Vinatex Hương Trà, May xuất khẩu Hué, Thiên An Phát, Thiên An Phú,.
nhận thức đúng về các hiệp định thương mại Việt Nam tham gia, từ đó tận dụng một cách tốt nhất các ưu đãi thương mại, chính sách đối với ngành dệt may mà Hiệp định nói trên mang lại, góp phan thúc day hoạt động xuất khâu đạt hiệu quả cao. Lê Thị Ánh Tuyết (2020) trong bài nghiên cứu khoa học có tựa đề "Phân tích thương mại Việt Nam — Nhật Bản trong CPTPP: sử dụng chỉ số thương mai" tập trung vào việc phân tích thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản trong ngữ cảnh của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2001 đến năm 2018 thông qua trang web chính thức của UNComtrade. Bài báo này sử dụng phương pháp chỉ số thương mại dé xác định các lĩnh vực có khả năng hưởng lợi và những lĩnh vực có khả năng bi ảnh hưởng tiêu cực giữa Việt Nam và Nhật Bản khi thực hiện CPTPP.
Kết quả đã chứng minh rằng Việt Nam và Nhật Bản có thể tiếp tục là những đối tác thương mại lớn và thậm chí sẽ phát triển mạnh mẽ hơn trong bối cảnh thực hiện CPTPP. Hiệp định này mở ra cơ hội lớn để Việt Nam tăng cường xuất khẩu các sản phâm như đệt may, giày da, đồ gỗ, rau quả, thủy sản và linh kiện điện tử sang Nhật Bản. Ngược lại, Nhật Bản cũng có nhiều cơ hội hơn trong việc xuất khâu các sản phẩm công nghệ cao sang Việt Nam. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất một số chính sách nhằm thúc đây quan hệ thương mại với Nhật Bản trong tương lai.
Hà Văn Hội (2015) đã thực hiện nghiên cứu về “Tham gia TPP — Cơ hội va thách thức đối với xuất khâu gạo của Việt Nam”. Bài viết phân tích tình hình sản xuất và xuất khâu gạo của Việt Nam trong thời gian qua; làm rõ cơ hội và thách thức của xuất khâu gạo khi tham gia TPP; đồng thời đề xuất một số biện pháp chính nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần tăng khối lượng và kim ngạch xuất khâu gạo của Việt Nam trong thời gian tới. Nghiên cứu khoa học: “Hiệp định xuyên Thái Bình Dương Cơ hội và thách thức đối với thị trường lao động Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Hoài (2014) đề cập những cơ hội và thách thức của thị trường lao động Việt Nam khi thực hiện các cam kết về lao động trong TTP, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng liên quan: tăng cường xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khâu lao động, rút ngắn khoảng cách cung - cầu về lao động, hạn chế tỷ lệ lao động dịch chuyển và phát triển mạnh mẽ thị trường lao động. Những công trình nghiên cứu về tác động của FTAs đến xuất khẩu da giày Việt Nam Luận án: “Day mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày vào thị trường EU trong tiến trình thực hiện Hiệp định thương mai tự do Việt Nam - EU (EVFTA)” của tác giả Pham Hong Nhung (2022) đã hệ thống hóa, làm rõ và bé sung cơ sở lý thuyết về đây mạnh xuất khẩu mặt hang da giày, cụ thé: là làm rõ khái niệm và nội hàm; xác lập khung khổ lý thuyết, xác định các nội dung và chỉ tiêu đánh giá đây mạnh xuất khâu mặt hàng da giày; các nhân tố trong nước và quốc tế tác động đến đây mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày, đặc biệt trong tiến trình thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).