Khóa luận tốt nghiệp: Tác động của hiệp định CPTPP đến xuất khẩu da giày của Việt Nam

Khóa luận tốt nghiệp phân tích tác động của Hiệp định CPTPP đến xuất khẩu da giày Việt Nam, đánh giá cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chuyên ngành

Kinh tế Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

108
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CPTPP ĐẾN XUẤT KHẨU DA GIÀY

1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2. Cơ sở lý luận về tác động của CPTPP đến xuất khẩu da giày

1.2.1. Khái quát về ngành da giày

1.2.2. Khái quát về CPTPP

1.3. Tác động của CPTPP đến ngành xuất khẩu da giày

1.3.1. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của CPTPP đến xuất khẩu da giày

1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu da giày

1.4. Kinh nghiệm quốc tế

1.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CPTPP ĐẾN XUẤT KHẨU DA GIÀY VIỆT NAM

2.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến xuất khẩu da giày của Việt Nam

2.1.1. Bối cảnh trong nước

2.1.2. Bối cảnh quốc tế

2.2. Khái quát về ngành da giày Việt Nam

2.2.1. Sản xuất da giày

2.2.2. Kim ngạch xuất khẩu da giày

2.2.3. Thị trường xuất khẩu

2.2.4. Mặt hàng xuất khẩu

2.3. Xuất khẩu da giày Việt Nam sang thị trường các nước CPTPP

2.4. Tác động của CPTPP đến xuất khẩu da giày Việt Nam

2.4.1. Tác động tích cực

2.4.2. Tác động tiêu cực

2.5. Đánh giá tác động của CPTPP đến xuất khẩu da giày

2.6. Hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU DA GIÀY DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CPTPP VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

3.1. Cơ hội và thách thức đối với ngành giày da Việt Nam từ CPTPP

3.1.1. Cơ hội đối với ngành giày da Việt Nam từ CPTPP

3.1.2. Thách thức đối với ngành giày da Việt Nam từ CPTPP

3.2. Giải pháp tăng cường xuất khẩu da giày dưới tác động của CPTPP và một số hàm ý chính sách

3.2.1. Giải pháp từ phía Nhà nước

3.2.2. Giải pháp từ phía Hiệp hội

3.2.3. Giải pháp từ phía doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về CPTPP và ngành da giày Việt Nam

CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương) là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, có phạm vi toàn diện và tiêu chuẩn cao. Hiệp định này có hiệu lực từ năm 2019, mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam. Ngành da giày là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp đáng kể vào GDP và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Xuất khẩu da giày của Việt Nam đã đạt kim ngạch 23,93 tỷ USD vào năm 2022, tăng 34,5% so với năm 2021, bất chấp những tác động tiêu cực từ thị trường thế giới.

1.1. Khái quát về CPTPP

CPTPP bao gồm 11 quốc gia thành viên, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản, Canada, và Australia. Hiệp định này cam kết giảm thuế quan về 0% cho nhiều mặt hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của các nước thành viên. Đối với Việt Nam, CPTPP mở ra cơ hội lớn để mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác kinh tế, và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

1.2. Tổng quan ngành da giày Việt Nam

Ngành da giày Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng. Các sản phẩm giày dép của Việt Nam được xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn như Mỹ, EU, và Nhật Bản. Tuy nhiên, ngành này cũng đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm việc đáp ứng các tiêu chuẩn sản phẩm khắt khe và cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia khác.

II. Tác động của CPTPP đến xuất khẩu da giày Việt Nam

CPTPP đã mang lại cả những tác động tích cực và tiêu cực đến xuất khẩu da giày của Việt Nam. Về mặt tích cực, hiệp định này giúp giảm thuế quan, mở rộng thị trường, và tăng cường hợp tác kinh tế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức như việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.

2.1. Tác động tích cực

CPTPP đã giúp giảm thuế quan về 0% cho nhiều mặt hàng giày dép của Việt Nam khi xuất khẩu sang các nước thành viên. Điều này đã thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, hiệp định này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.

2.2. Tác động tiêu cực

Mặc dù CPTPP mang lại nhiều cơ hội, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức lớn. Việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn sản phẩm khắt khe là một trong những rào cản chính. Ngoài ra, sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài cũng đặt ra nhiều áp lực cho các doanh nghiệp trong nước.

III. Giải pháp tăng cường xuất khẩu da giày dưới tác động của CPTPP

Để tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua thách thức từ CPTPP, các doanh nghiệp và chính phủ Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn sản phẩm quốc tế, và tăng cường hợp tác kinh tế với các nước thành viên.

3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ và tiêu chuẩn sản phẩm. Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác kinh tế với các nước thành viên cũng là một giải pháp quan trọng để mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn sản phẩm quốc tế, và tăng cường đầu tư vào công nghệ. Ngoài ra, việc xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường cũng là những yếu tố quan trọng để tận dụng tối đa các cơ hội từ CPTPP.

21/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương cptpp đến xuất khẩu da giày của việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE TÁC DONG CUA CPTPP DEN XUAT KHẨU DA GIÀY 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về tác động của CPTPP Nguyễn Việt Phương (2019) đã tiến hành nghiên cứu về tác động của CPTPP đến ngành nông nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu đã trình bày các cơ hội CPTPP đem đến ngành nông nghiệp của Việt Nam: Hiệp định này sẽ đỡ bỏ hàng rào thuế quan ngay khi CPTPP có hiệu lực và theo lộ trình; Tạo động lực, sức ép cho doanh nghiệp trong nước tập trung vào chế biến, đầu tư vào phát triển chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, từ đó, nâng cao giá trị gia tăng, tăng cường xuất khẩu sản phẩm chế biến, giảm xuất khẩu thô, xuất khâu nguyên liệu; Tiếp tục duy trì và củng cô lợi thé của nước ta so với các quốc gia khác trong CPTPP về sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản nhiệt đới và cận nhiệt đới vì giá thành thấp, nguồn nguyên liệu đồi dào và nguồn nhân lực rẻ hơn các nước khác trong khối; CPTPP đem đến cơ hội để nước ta đầu tư nâng cao trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý bắt kịp với các nước còn lại trong khối, phát triển các khâu quản lý, quảng bá, marketing cho sản phẩm.

Nghiên cứu cũng đưa ra các thách thức CPTPP đặt ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam: các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với làn sóng cạnh tranh gay gắt đến từ các doanh nghiệp nước đối tác; CPTPP là một hiệp định thế hệ mới có phạm vi quy định toàn diện và tiêu chuẩn cao. Từ những cơ hội và thách thức, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho ngành Nông nghiệp Việt Nam: tích cực tìm hiểu, thông tin cho doanh nghiệp và người nông dân về nội dung hiệp định CPTPP; thay đổi tư duy kinh doanh, biến khó khăn thành động lực, biến sức ép cạnh tranh trên thị trường thành bài học dé đổi mới; tăng cường sức cạnh tranh của hàng nội dia bằng cách thúc đây sự kết nối và hợp tác liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước; tăng cường trình độ nguồn nhân lực bằng cách thúc day đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đến từ các trường đại học, cao đăng: chủ động xúc tiến thương mại va đầu tư, lựa chọn thị trường và đối tác dé thu hút vốn va tiếp cận công nghệ hiện đại; quan tâm đến van đề sở hữu trí tuệ nhăm đảo bảo quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Lê Vỹ Tường Vy (2020) thực hiện nghiên cứu đề tài về phân tích và dự báo các tác động của CPTPP đến các doanh nghiệp Bình Định. Tác giả tập trung phân tích và dự báo các cơ hội cũng như những thách thức cho các doanh nghiệp Bình Định khi tham gia vào Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.

Trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp đối với bản thân mỗi doanh nghiệp Bình Định cũng như chính sách hỗ trợ đối với Nhà nước, đặc biệt là vai trò của Sở Công thương tỉnh Bình Định trong chiến lược phát triển kinh tế của Tỉnh nhà. Nguyễn Xuân Hưng (2020) tiến hành nghiên cứu tác động của CPTPP đến xuất khâu thủy sản của Việt Nam. Từ những quy định của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) liên quan đến xuất khẩu thủy sản của một quốc gia thành viên, bài viết đã phân tích và dự báo những tác động của Hiệp định dé chi ra những cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số đề xuất hàm ý chính sách nhằm khai thác tác động của CPTPP dé tận dụng các co hội và vượt qua thách thức cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian tới.

Tạ Văn Lợi (2021) nghiên cứu về tác động các cam kết của hiệp định CPTPP đến năng lực cạnh tranh cap tinh (CPI) tại Việt Nam. Tác giả đã trình bày về kết quả công bố chỉ số CPI hàng năm tại Việt Nam. Sau đó, tác giả trình bày về các chỉ số thành phần của CPI và mức độ ảnh hưởng từ các cam kết của Việt Nam đối với Hiệp định CPTPP. Trên cơ sở đó, tác giả đã trình bày các kiến nghị và giải pháp tăng cường thực thi các cam kết của Hiệp định CPTPP đối với cạnh tranh tại Việt Nam.

Võ Lê Nam và Hà Thị Phương Trà (2020) thực hiện nghiên cứu về tác động của cam kết cắt giảm thuế quan nhập khâu trong CPTPP đối với Việt Nam. Trên cơ sở phân tích cam kết cắt giảm thuế quan nhập khẩu trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), bài viết nhận định răng, sự ảnh hưởng của việc mở cửa thị trường thương mại hàng hóa trong khuôn khô CPTPP đối với kinh tế Việt Nam, cũng như khả năng cạnh tranh của một số nhóm hàng sau khi giảm thuế, đặc biệt là các mặt hàng chủ lực, bao gồm may mặc, nông sản, thủy sản, sản phẩm điện, điện tử, khoáng sản và dầu khí, là không đáng kể. Tuy nhiên, Chính phủ cũng như các doanh nghiệp vẫn gặp phải những thách thức nhất định khi triển khai CPTPP. Bài viết đưa ra một số đề xuất chính sách dé Việt Nam có thé khai thác hiệu quả quy định về thuế quan nhập khâu của Hiệp định trong thời gian tới.

Phan Thanh Hoàn (2019) thực hiện báo cáo tóm tắt đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Huế về đánh giá tác động tiềm năng của CPTPP đến ngoại thương Việt Nam. Đề tài đã phân tích tác động của CPTPP đến ngoại thương và các ngành hàng xuất, nhập khâu chủ lực của Việt Nam, làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển ngoại thương nói chung và các ngành hàng xuất, nhập khẩu chủ lực nói riêng trong bối cảnh hội nhập CPTPP của Việt Nam. Trần Viết Long (2019), Nghiên cứu khoa học: “Tac động của các Hiệp định thương mại tự do FTAs đối với ngành dệt may của Việt Nam — Qua thực tiễn tại tinh Thừa Thiên Huế” đã đi sâu phân tích thực trạng, các rao cản khi các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên của các Hiệp định trong WTO (Hiệu định Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (1994), Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại, Hiệu định về Quy định xuất xứ); Hiệp định Thương mại tự do Asean (AFTA); Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam — Nhật Bản (VJEPA); Hiệp định thương mại Tự do Asean — Hàn Quốc (AKFTA); Hiệp định CPTPP và các hiệp định khác. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn của tỉnh Thừa Thiên Huế, đề tài để xuất các giải pháp chiến lược tổng thể và cụ thể giúp các doanh nghiệp dệt may ở địa phương như HBI, Scavi, Dệt may Huế, Vinatex Hương Trà, May xuất khẩu Hué, Thiên An Phát, Thiên An Phú,.

nhận thức đúng về các hiệp định thương mại Việt Nam tham gia, từ đó tận dụng một cách tốt nhất các ưu đãi thương mại, chính sách đối với ngành dệt may mà Hiệp định nói trên mang lại, góp phan thúc day hoạt động xuất khâu đạt hiệu quả cao. Lê Thị Ánh Tuyết (2020) trong bài nghiên cứu khoa học có tựa đề "Phân tích thương mại Việt Nam — Nhật Bản trong CPTPP: sử dụng chỉ số thương mai" tập trung vào việc phân tích thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản trong ngữ cảnh của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ năm 2001 đến năm 2018 thông qua trang web chính thức của UNComtrade. Bài báo này sử dụng phương pháp chỉ số thương mại dé xác định các lĩnh vực có khả năng hưởng lợi và những lĩnh vực có khả năng bi ảnh hưởng tiêu cực giữa Việt Nam và Nhật Bản khi thực hiện CPTPP.

Kết quả đã chứng minh rằng Việt Nam và Nhật Bản có thể tiếp tục là những đối tác thương mại lớn và thậm chí sẽ phát triển mạnh mẽ hơn trong bối cảnh thực hiện CPTPP. Hiệp định này mở ra cơ hội lớn để Việt Nam tăng cường xuất khẩu các sản phâm như đệt may, giày da, đồ gỗ, rau quả, thủy sản và linh kiện điện tử sang Nhật Bản. Ngược lại, Nhật Bản cũng có nhiều cơ hội hơn trong việc xuất khâu các sản phẩm công nghệ cao sang Việt Nam. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất một số chính sách nhằm thúc đây quan hệ thương mại với Nhật Bản trong tương lai.

Hà Văn Hội (2015) đã thực hiện nghiên cứu về “Tham gia TPP — Cơ hội va thách thức đối với xuất khâu gạo của Việt Nam”. Bài viết phân tích tình hình sản xuất và xuất khâu gạo của Việt Nam trong thời gian qua; làm rõ cơ hội và thách thức của xuất khâu gạo khi tham gia TPP; đồng thời đề xuất một số biện pháp chính nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần tăng khối lượng và kim ngạch xuất khâu gạo của Việt Nam trong thời gian tới. Nghiên cứu khoa học: “Hiệp định xuyên Thái Bình Dương Cơ hội và thách thức đối với thị trường lao động Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Hoài (2014) đề cập những cơ hội và thách thức của thị trường lao động Việt Nam khi thực hiện các cam kết về lao động trong TTP, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng liên quan: tăng cường xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khâu lao động, rút ngắn khoảng cách cung - cầu về lao động, hạn chế tỷ lệ lao động dịch chuyển và phát triển mạnh mẽ thị trường lao động. Những công trình nghiên cứu về tác động của FTAs đến xuất khẩu da giày Việt Nam Luận án: “Day mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày vào thị trường EU trong tiến trình thực hiện Hiệp định thương mai tự do Việt Nam - EU (EVFTA)” của tác giả Pham Hong Nhung (2022) đã hệ thống hóa, làm rõ và bé sung cơ sở lý thuyết về đây mạnh xuất khẩu mặt hang da giày, cụ thé: là làm rõ khái niệm và nội hàm; xác lập khung khổ lý thuyết, xác định các nội dung và chỉ tiêu đánh giá đây mạnh xuất khâu mặt hàng da giày; các nhân tố trong nước và quốc tế tác động đến đây mạnh xuất khẩu mặt hàng da giày, đặc biệt trong tiến trình thực hiện Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác động của CPTPP đến xuất khẩu da giày Việt Nam" phân tích những ảnh hưởng tích cực của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đối với ngành xuất khẩu da giày của Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng CPTPP không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận thị trường lớn hơn mà còn giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong ngành. Đặc biệt, việc giảm thuế quan và các rào cản thương mại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động.

Để hiểu rõ hơn về các giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu hạt độn nhựa caco3 của công ty cổ phần khoáng sản gcc. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các chiến lược và phương pháp có thể áp dụng để phát triển thị trường xuất khẩu trong bối cảnh hiện tại.

Khám phá thêm các tài liệu liên quan sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và nắm bắt được những xu hướng mới trong ngành xuất khẩu, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả hơn.