PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 35 năm kể từ khi thực hiện chính sách “Đổi Mới”, Việt Nam ngày càng mở cửa thị trƣờng và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Hoạt động thƣơng mại ngày càng đƣợc đẩy mạnh về cả xuất khẩu và nhập khẩu, nhờ đó kinh tế ngày càng phát triển với GDP liên tục tăng trƣởng cao. Cùng với các chính sách cải cách tái cấu trúc nền kinh tế, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) đã trở thành một yếu tố quan trọng góp phần đẩy mạnh sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia Đối với Việt Nam, việc ký kết các hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới và cụ thể là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dƣơng (CPTPP) đã tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy kinh tế đồng thời đặt ra những thách thức mới cho tình hình xuất khẩu hàng dệt may.
Tiền thân của CPTPP là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP), trƣớc đây đã gồm 12 nƣớc thành viên khác ký kết vào ngày 4/2/2016, nhƣng do Mỹ rút khỏi Hiệp định, nên các nƣớc dừng việc phê chuẩn và thể hiện sự tự tin bằng việc thành lập một khối tự do thƣơng mại riêng, độc lập với nền kinh tế lớn nhất thế giới. Sau đó các nƣớc còn lại đã thành lập CPTPP và ký kết tại Santiago (Chile) vào ngày 8/3/2018. Hiệp định đã chính thức có hiệu lực với 6 nƣớc thành viên Canada, Mexico, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore vào ngày 30/12/2018 và chính thức có hiệu lực với Việt Nam vào ngày 14/1/2019. Tính đến thời điểm hiện tại, Hiệp định CPTPP đã đƣợc cả 11 nƣớc thành viên phê chuẩn.
Cánh cửa CPTPP đã chính thức mở ra với Việt Nam, mở ra khu vực thƣơng mại tự do giữa các nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dƣơng Tham gia CPTPP cung cấp cho Việt Nam và các nƣớc cơ hội để tham gia vào một thị trƣờng tự do lớn hơn, mở cửa cơ hội tiếp cận các thị trƣờng lớn nhƣ Nhật Bản, Canada 1 và Mexico, với thuế nhập khẩu giảm xuống 0%. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nƣớc nhỏ nhƣ Việt Nam, Brunei và Peru để mở rộng khả năng tiếp cận thị trƣờng này. Việt Nam là cƣờng quốc xuất khẩu dệt may trên thế giới với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm các sản phẩm dệt may của Việt Nam đạt 44.2 tỷ USD năm 2021 (Trademap,2023) đứng thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Bangladesh trong đó xuất khẩu sang các nƣớc CPTPP đạt 5,2 tỷ USD, điều đó cho thấy Việt Nam còn rất nhiêu dƣ địa để phát triển tại thị trƣờng này. Là một trong những hiệp định thƣơng mại tự do có mức mở cửa mạnh nhất từ trƣớc tới nay, tham gia CPTPP mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích và cơ hội, cũng nhƣ mang tới nhiều thách thức cho thƣơng mại và đặc biệt là ngành dệt may.
Nhận thấy việc nghiên cứu về tác động của CPTPP là vô cùng quan trọng đối với ngành mũi nhọn nhƣ là dệt may, vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “ Đánh giá tác động của hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương tới xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam” nhằm đánh giá tác động của CPTPP đối với ngành mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, từ đó đƣa ra những giải pháp kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới 2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: - Bài luận văn nhằm mục tiêu đánh giá tác động của hiệp định CPTPP đối với mặt hàng dệt may xuất khẩu. Từ đó đƣa ra một số hàm ý nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam sang các nƣớc CPTPP trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hóa lý thuyết về tác động của FTA đến xuất khẩu mặt hàng dệt may 2 - Đánh giá tác động của CPTPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam trên các khía cạnh tạo lập thƣơng mại, chệch hƣớng thƣơng mại, quy mô xuất khẩu, mặt hàng xuất khẩu, thị trƣờng xuất khẩu.
- Đề xuất giải pháp và hàm ý thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam sang các nƣớc CPTPP trong thời gian tới 3. Câu hỏi nghiên cứu - Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang các nƣớc CPTPP nhƣ thế nào? - CPTPP tác động nhƣ thế nào đến xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam - Giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng dệt may trong thời gian tới là gì? 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Các tác động của Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dƣơng tới xuất khẩu dệt may Việt Nam (Mã HS gồm: HS61,HS62, HS63. Đây là 3 nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam) - Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang các nƣớc thuộc CPTPP sau khi hiệp định có hiệu lực: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, México, New Zealand, Peru, Singapore Thời gian: 2018-2022.
Tác giả chọn mốc thời gian nhƣ vậy là vì năm 2018 là mốc thời gian CPTPP chính thức có hiệu lực 5. Kết cấu của đề tài Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở khoa học về tác động của hiệp định thƣơng mại tự do đến xuất khẩu Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu 3 Chƣơng 3: Tác động của CPTPP đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam sang các nƣớc CPTPP Chƣơng 4: Một số kiến nghị cho Việt Nam CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO ĐẾN XUẤT KHẨU 1. Tổng quan tài liệu Nghiên cứu về tác động của một Hiệp định thương mại tự do đến hoạt động xuất khẩu một ngành hàng cụ thể ở một quốc gia là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận văn.
Các bài nghiên cứu này tập trung vào các lĩnh vực chính như sau: 1. Các nghiên cứu về tác động của các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Một số nghiên cứu đánh giá chung về tác động của các FTA đến hoạt động thƣơng mại của Việt Nam nhƣ: Trần Thị Trang, Đỗ Thị Mai Thanh (2018), ”Những tác động nổi bật của FTA thế hệ mới đối với tăng trƣởng kinh tế Việt Nam”. Bài viết tập trung phân tích những ảnh hƣởng của FTA thế hệ mới tới với Việt Nam, đặc biệt là những tác động thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Bài viết bao gồm các nội dung: đặc điểm của FTA thế hệ mới, phạm vi và nội dung của FTA và đánh giá những tác động của FTA thế hệ mới đối với tăng trƣởng kinh tế Việt Nam.
Dựa vào đó, các tác giả đã đƣa ra một số khuyến nghị đối với doanh nghiệp, Nhà nƣớc nhằm tận dụng những tác động tích cực để tranh thủ những ƣu đãi thuế quan trong xuất nhập khẩu hàng hóa; tăng khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng mới hình thành trong khu vực hay hoàn thiện thể chế cơ chế kinh tế 4 tạo đà thực hiện mục tiêu kép trong phát triển là tăng trƣởng kinh tế và ổn định vĩ mô Phạm Nguyên Minh và các cộng sự (2017) sử dụng mô hình CGE, SMART và thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia và doanh nghiệp địa phƣơng về tác động của các FTA thế hệ mới đến các nƣớc thành viên, điển hình là Việt Nam. Kết quả cho thấy tham gia vào các FTA khuyến khích Việt Nam hƣớng đến môi trƣờng thƣơng mại và đầu tƣ minh bạch. Từ đó tạo ra con đƣờng để Việt Nam sử dụng hiệu quả hơn lợi thế so sánh về giá nhân công và tài nguyên thiên nhiên tƣơng đối rẻ để tăng cƣờng cạnh tranh Nguyễn Thị Thanh Huyền và cộng sự (2019) đã sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá sâu về hiệu quả tác động của các FTA đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015. Mô hình lƣợng hóa năng lực khai thác tiềm năng xuất khẩu gạo của Việt Nam khi tham gia các hiệp định thƣơng mại, hay nói cách khác là ƣớc tính mức độ kém hiệu quả trong điều hành hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam dƣới tác động của các FTA.
Kết quả cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo chƣa phát huy tốt tác động của các hiệp định thƣơng mại mà Việt Nam tham gia và không phải hiệp định thƣơng mại nào cũng có xu hƣớng tăng khả năng khai thác tiềm năng xuất khẩu gạo. Khoảng cách địa lý là trở ngại đối với hoạt động xuất khẩu gạo, các nƣớc không tiếp giáp nhau khiến chi phí giao dịch thƣơng mại tăng lên và làm giảm giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam khoảng 3%. Biến giả Gia nhập WTO đƣợc đƣa vào mô hình để đo lƣờng những thay đổi trong cấu trúc dữ liệu cho thấy quá trình hội nhập này đã thúc đẩy giá trị xuất khẩu thực tế của Việt Nam tăng khoảng 0,64%. Nguyễn Trung Anh (2017) trong nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực để phân tích những tác động tự do hóa thƣơng mại trong ASEAN (các Hiệp định thƣơng mại tự do: AFTA, ACFTA, AKFTA, AJCEP) đến thƣơng mại 5 ngành hàng điện tử của Việt Nam.
Kết quả chỉ ra rằng: GDP của Việt Nam và các nƣớc đối tác cao sẽ dẫn đến sự tăng giá trị xuất nhập khẩu hàng điện tử, Hiệp định AFTA có tác động tích cực đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam và có chút ảnh hƣởng tiêu cực đối với một số mặt hàng nhập khẩu và thị trƣờng điện tử Trung Quốc luôn là một đối thủ mạnh đối với Việt Nam. Từ đó, bài nghiên cứu đƣa ra một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy thƣơng mại ngành hàng điện tử của Việt Nam. Trong khi đó, Huỳnh Ngọc Chƣơng và cộng sự (2020) lại sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá hiệu quả xuất khẩu nông sản của Việt Nam Nam trong giai đoạn từ 2000-2018 dƣới tác động của các FTA mà Việt Nam tham gia. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, các FTA tạo lập lợi thế xuất khẩu và thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam, yếu tố vị trí địa lý có tác động lớn đến xuất khẩu các mặt hàng nông sản, yếu tố duy trì môi trƣờng vĩ mô ổn định hỗ trợ xuất khẩu.