Chương 1. Tổng quan hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu xe điện của Công ty TNHH MTV xe điện DK Việt Nhật Chương 3. Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Công ty TNHH MTV xe điện DK Việt Nhật Luan van 6 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1. Khái niệm xuất khẩu và các phƣơng thức xuất khẩu 1. Khái niệm xuất khẩu Theo Belay Seyoum, buôn bán quốc tế là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ vượt qua khỏi biên giới quốc gia. Nó là phương thức truyền thống cơ bản nhất của hoạt động kinh doanh quốc tế và là loại hình đầu tiên của hoạt động kinh doanh đối ngoại được thực hiện bởi nhiều công ty nhất bởi vì xuất nhập khẩu yêu cầu tối thiểu sự cam kết và ít rủi ro nhất đối với tài nguyên của doanh nghiệp.
Năm 1826 tác giả thuộc trường phái chủ nghĩa trọng thương Anh - Thomas Mun (1571- 1641) cho rằng: “Thương mại chính là hòn đá thử vàng với sự phồn vinh của một quốc gia, các nước phát triển buôn bán với nước ngoài”. Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: “Xuất khẳu chỉ có lợi cho một bên và gây thiệt hại cho bên kia, dân tộc này làm giàu bằng cách hi sinh lợi ích cho dân tộc kia”. Một số tác giả khác lại cho rằng: “Xuất nhập khẩu chính là mở rộng của hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ ra khỏi phạm vi biên giới”. Ngày nay, xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, trong đó tiền tệ ở đây phải là ngoại tệ đối với một bên hoặc đối với cả hai bên.
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện trên mọi lĩnh vực, điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng, tư liệu sản xuất, máy móc, thiết bị, máy móc công nghệ cao, từ hàng hóa hữu hình đến hàng hóa vô hình nhằm mục tiêu đem lại lợi ích của các quốc gia tham gia. Hoạt động xuất khẩu cũng diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, xuất khẩu ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia và phân công lao động quốc tế. Các quốc gia đều coi xuất khẩu là tiền đề, nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế trong nước, phát huy lợi thế quốc gia và tối ưu hóa phân công lao động.
Luan van 7 Theo điều 28, Luật Thương mại 2005 quy định: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Xét trên góc độ doanh nghiệp, xuất khẩu là hình thức cơ bản mà doanh nghiệp áp dụng khi tham gia vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế. Các doanh nghiệp luôn hướng tới việc xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ ra thị trường các nước, nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Xuất khẩu luôn được xem là một hình thức kinh doanh quan trọng của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc tham gia thị trường quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có kiến thức, kinh nghiệm và nắm bắt được các thông tin về hàng hóa, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả, xu hướng biến động của thị trường… để thâm nhập, phát triển và mở rộng thị trường quốc tế. Đặc điểm xuất khẩu - Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là một hoạt động diễn ra trên phạm vi lớn cả về không gian và thời gian, hoạt động này được thực hiện không chỉ giữa các quốc gia láng giềng mà còn diễn ra giữa các nước tạo ra một thị trường rộng lớn và nhiều tiềm năng khai thác. Kinh doanh xuất nhập khẩu có thể diễn ra nhanh chóng trong vài giờ hoặc có thể kéo dài lâu hơn thậm chí kéo dài hàng năm. - Kinh doanh xuất khẩu là hoạt động chủ yếu là hoạt động ngoại thương do đó mà nó chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô như chế độ chính sách, luật pháp, kinh tế, văn hoá, đặc biệt là chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu.
Ngoài ra các yếu tố thuộc môi trường vi mô như sự cạnh tranh của các đối thủ, tiềm năng tài chính, chiến lược kinh doanh của công ty cũng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động xuất khẩu. Do chịu sự chi phối của các nhân tố trên mà hoạt động hoạt động kinh doanh xuất khẩu mặc dù lợi nhuận cao nhưng lại có tính rủi ro tương đối lớn. - Hoạt động xuất khẩu xét về mặt bản chất chính là hợp đồng mua bán quốc tế được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, do đó mà nó chịu sự điều chỉnh bởi nhiều hệ thống luật như luật quốc gia, luật quốc tế. Khi hoạt động này diễn ra đồng nghĩa với việc ký kết hoạt đồng mua bán quốc tế, khi đó người bán sẽ chuyển giao Luan van 8 chứng từ có liên quan đến hàng hoá và chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá ấy cho người mua, người mua phải có trách nhiệm thanh toán và nhận hàng.
Quá trình này diễn ra kèm theo với nó là các thủ tục hải quan và thủ tục hành chính khác. Nhưng đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với một trong hai đối tác, thông thường đó là các ngoại tệ mạnh như USD, JPY, EURO. - Hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hoá vượt ra khỏi biên giới quốc gia nên phải sử dụng các phương tiện vận tải chuyên dụng như: Vận tải đường biển, đường sắt, máy bay hoặc đường bộ. Vận chuyển hàng hoá từ nơi người bán đến tận tay người mua thường là phải qua quãng đường dài đó là hàng hoá phải được đóng gói trong bao bì đảm bảo phù hợp với phương tiện vận tải, điều kiện khí hậu, tránh hao mòn, mất mát và hư hỏng.
- Bản chất của xuất khẩu là hợp đồng mua bán quốc tế nên phải thống nhất ngôn ngữ soạn thảo, phải là hình thức văn bản có chữ ký pháp lý, các điều kiện và điều khoản phải rõ ràng, súc tích và phải thống nhất và chỉ rõ luật điều chỉnh. Các phương thức xuất khẩu chủ yếu Tác giả Belay Seyoum (2009) đã phân biệt các phương thức xuất khẩu ra làm 2 nhóm chính: Xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp. Xuất khẩu trực tiếp Là hình thức doanh nghiệp bán hàng trực tiếp tới các doanh nghiệp phân phối, các nhà bán lẻ, hoặc các công ty thương mại ở nước ngoài, hoặc thông qua kênh phân phối và đại diện bán hàng của tổ chức mình ở thị trường mục tiêu. Các doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở tự cân đối về tài chính, có quyền tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán và thị trường, xác định phạm vi kinh doanh nhưng trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất khẩu của nhà nước.
Ưu điểm: - Doanh nghiệp trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, với thị trường nên nắm bắt được sự thay đổi của thị trường, dễ điều chỉnh khi thị trường biến đổi. - Hình thức này diễn ra nhanh chóng, bí mật, thuận tiện, giữ được khách hàng đảm bảo được nguồn hàng của doanh nghiệp dù tự sản xuất hoặc thu gom. Luan van 9 Nhược điểm: - Chi phí tốn kém và yêu cầu cả hai đối tác cần phải có nghiệp vụ chuyên môn sâu. - Tính rủi ro cao do khách hàng bất ngờ thay đổi.
Xuất khẩu trực tiếp bao gồm các hình thức: - Trực tiếp marketing từ trụ sở công ty: Doanh nghiệp bán hàng trực tiếp tới nhà bán lẻ hoặc người tiêu dùng cuối cùng ở nước ngoài thông qua catalog hoặc các nhân viên bán hàng. Hoặc các chi nhánh bán hàng và công ty con ở nước ngoài sẽ được thành lập, đảm nhận mọi trách nhiệm trong việc phân phối và xúc tiến bán hàng, trưng bày sản phẩm, cung cấp dịch vụ đi kèm, tiếp nhận và xử lý các đơn hàng. - Marketing thông qua đại lý và các nhà phân phối nước ngoài + Đại lý nước ngoài: là những đơn vị độc lập ở nước nhập khẩu, đại diện cho nhiều nhà cung cấp. Họ không chịu trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hóa, không vận chuyển, không nắm quyền sở hữu hàng hóa.
Họ chủ động liên hệ với các doanh nghiệp xuất khẩu để đặt hàng, thu lợi dựa trên hoa hồng bán hàng và thường không cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng. Hình thức này phù hợp khi doanh nghiệp muốn xuất khẩu sang các thị trường nhỏ, hướng tới cá nhân hóa sản phẩm cho khách hàng, hoặc bán các mặt hàng máy móc cồng kềnh khó lưu kho. + Nhà phân phối nước ngoài: khác với đại lý, các nhà phần phối sẽ đảm nhận khâu vận chuyển, nắm quyền sở hữu hàng hóa và cung cấp các dịch vụ trước và sau bán hàng. Họ nhập hàng từ các nhà xuất khẩu rồi bán lại nhằm hưởng lợi nhuận chênh lệch.
Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ lập hợp đồng thỏa thuận hợp tác với nhà phân phối, đôi khi là độc quyền trong phạm vi lãnh thổ nhất định, với điều kiện nhà phân phối không được nhập hàng của đối thủ cạnh tranh. Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ của mình thông qua đơn vị trung gian có trụ sở ở thị trường mục tiêu. Đơn vị này sẽ chịu trách nhiệm marketing và vận chuyển sản phẩm ra nước ngoài. Ưu điểm: - Tận dụng được năng lực kinh doanh của đơn vị, tổ chức đó mà không cần phải điều tra, nghiên cứu thị trường.
Luan van 10 - Hạn chế được rủi ro, tính an toàn cao. Nhược điểm: - Doanh nghiệp sẽ bị phụ thuộc vào các tổ chức tiêu thụ do không nắm bắt được xu hướng thay đổi của thị trường, mất quyền kiểm soát đối với hàng hóa ở nước ngoài. - Dễ bị mất khách vì các tổ chức tiêu thụ có cơ hội lựa chọn người cung cấp với chi phí rẻ nhất. Thành công của phương thức này phụ thuộc lớn vào việc lựa chọn trung gian.
Điều đó có thể dẫn đến việc sản phẩm của doanh nghiệp có thể sẽ không được ưu tiên quảng bá, thậm chí dừng hẳn marketing, do sản phẩm của bên khác có tiềm năng tốt hơn về doanh thu và lợi nhuận. - Phải chia sẻ lợi nhuận với bên trung gian.