ĐẶT VẤN ĐỀ Toàn cầu hóa thương mại đã thúc đẩy số lượng ngày càng tăng các công ty tham gia vào các hoạt động quốc tế (Chang và Fang, 2015; Chen và ctv. Xuất khẩu được xem là chiến lược quan trọng trong quá trình quốc tế hóa (Sousa và ctv., 2008), vì nó mang lại cho các công ty mức độ linh hoạt cao và yêu cầu các cam kết về tài chính, nhân lực và nguồn lực tối thiểu khi so sánh với các phương thức gia nhập quốc tế khác. Hơn nữa, xuất khẩu cho phép các doanh nghiệp tiếp thu kiến thức thị trường, vì nó thường đòi hỏi họ phải cạnh tranh trong các môi trường đa dạng và ít quen thuộc hơn. Kiến thức thu được thông qua xuất khẩu có thể được áp dụng không chỉ ở thị trường nước ngoài mà còn ở thị trường trong nước, do đó giúp các doanh nghiệp cạnh tranh hơn và thành công hơn ở cả thị trường nội địa và quốc tế (Chitauro và Khumalo, 2020).
Do một số lợi ích mà xuất khẩu có thể mang lại cho các doanh nghiệp và quốc gia, trong nhiều thập kỷ qua, một số nhà nghiên cứu đã nỗ lực nghiên cứu để xác định các biến số ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Tuy nhiên kiến thức về chủ đề này vẫn còn hạn chế và các tài liệu về hoạt động xuất khẩu thường đưa ra kết quả không nhất quán (Sousa và ctv. Trong bối cảnh này, các nhà nghiên cứu đã điều tra tác động của nhiều yếu tố đến hoạt động xuất khẩu (Cadogan và ctv., 2012; Morgan và ctv. Trong đó các yếu tố bên trong là những yếu tố được các nhà nghiên cứu kiểm tra thường xuyên hơn.
Điều này có cơ sở vì các yếu tố này nằm dưới sự kiểm soát của các doanh nghiệp nhiều hơn. Với tầm quan trọng của xuất khẩu, ngày càng nhiều hơn các nghiên cứu quốc tế đã tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố quyết định hoạt động xuất khẩu thành công. Đặc biệt, những năm gần đây, người ta ngày càng chú ý đến việc xác định và đánh giá năng lực kinh doanh quốc tế làm cơ sở cho hoạt động xuất khẩu của các công ty (Kaleka, 2012; Chang và Fang, 2015; Chen và ctv. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa xem xét toàn diện các yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu.
Hơn nữa, phần lớn các nghiên 1 cứu trước đây theo hướng này tập trung vào các nền kinh tế tiên tiến và ở các nước phương Tây, do đó, sự hiểu biết về mối quan hệ giữa các năng lực cạnh tranh và kết quả xuất khẩu trong bối cảnh của các nền kinh tế đang phát triển vẫn còn thiếu (Boso và ctv. Bằng chứng từ các nghiên cứu trước đây chỉ ra có sự khác biệt giữa các nền kinh tế tiên tiến và đang phát triển trong các yếu tố tác động đến xuất khẩu. Quan trọng hơn, các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động từ các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với nhiều thách thức từ thị trường xuất khẩu, điển hình như hạn chế về nguồn lực (Boso và ctv., 2016), thiếu kinh nghiệm quốc tế (Gries và Naudé, 2010), thiếu kiến thức về tiếp thị và thông tin (Tesfom và Lutz, 2006), hệ thống quản lý phức tạp kém phát triển hỗ trợ các hoạt động quốc tế (Boso và ctv., 2016), và các hàng rào thuế quan và phi thuế quan áp dụng cho hàng xuất khẩu (Korneliussen và Blasius, 2008). Với những khác biệt này, cần có thêm nhiều nghiên cứu và dữ liệu từ bối cảnh của các nền kinh tế đang phát triển để mở rộng kiến thức về chủ đề này (Boso và ctv.
Đối với các DN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, vấn đề cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt trên tất cả các lĩnh vực. Vì thế các DN muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập thì phải chấp nhận đối mặt với cạnh tranh và để có được ưu thế cạnh tranh trước các đối thủ thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thì sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt với sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thị trường. Vì thế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề mang tính chiến lược và vô cùng cấp bách đặt ra cho các DN xuất khẩu thủy hải sản nói riêng và các DN nói chung để giúp DN đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường.
Hơn thế, nâng cao năng lực cạnh tranh ở các DN có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của DN. Với mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của DN là lợi nhuận thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại DN được xem như là một chiến lược không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của DN. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ đem lại lợi ích cho DN, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả nền kinh tế. Thủy hải sản vẫn được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017), Việt Nam đứng trong ba quốc gia hàng đầu thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ) về nuôi trồng và sản xuất thủy hải sản. Bắt đầu từ năm 2000, XK thủy sản của Việt Nam có sự tăng trưởng đột phá nhờ phát triển mạnh ngành nuôi trồng, đặc biệt là nuôi cá tra và tôm nước lợ (tôm sú và tôm thẻ chân trắng). Sau 12 năm, kim ngạch XK thủy 2 sản tăng gấp hơn 4 lần từ mức gần 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 7,8 tỷ USD năm 2014. Năm 2015, XK thủy sản gặp khó khăn do giá tôm giảm, đồng USD tăng mạnh so với các tiền tệ khác làm giảm nhu cầu và tăng áp lực cạnh tranh.
Kim ngạch XK thủy sản năm 2016 đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,3% so với năm 2015. Năm 2017, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức từ các thị trường như tác động của chương trình thanh tra cá da trơn và việc EU cảnh báo thẻ vàng đối với hải sản Việt Nam, XK thủy sản cả năm 2017 vẫn đạt trên 8,3 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2016. Năm 2018, XK thủy sản của cả nước đạt kim ngạch trên 8,8 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm 2017. Trong 5 năm qua, kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam luôn đứng thứ 4 trong số các mặt hàng XK chủ lực, sau dệt may, da giày và dầu thô.
Thành tựu của ngành thủy sản thể hiện bằng kết quả XK tăng nhanh về cả giá trị và sản lượng trong giai đoạn 2001 - 2019. Năm 2019, sản phẩm thủy sản được XK sang 158 nước và vùng lãnh thổ. Ba thị trường chính là EU chiếm 15%, Mỹ 17% và Nhật Bản 17%. Hiện nay, đang có những thị trường tiềm năng như Trung Quốc (17%) và ASEAN (8%).
Số nhà máy và công suất cấp đông của các cơ sở chế biến tăng rất nhanh trong giai đoạn 2001- 2015. Khu vực ĐBSCL đã hình thành một số công ty quy mô lớn như Tập đoàn thủy sản Minh Phú, Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn, công ty Cổ phần Hùng Vương… Năm 2020, với nhiều biến động của nền kinh tế thế giới trước đại dịch Covid-19, ngành thủy sản Việt Nam vẫn đạt được sự tăng trưởng nhất định. Cụ thể, sản lượng thủy sản của cả nước đạt 8,4 triệu tấn, tăng nhẹ 3% so với năm 2019. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên nhân biến động giá, thay đổi xu hướng tiêu dùng và đứt gãy chuỗi cung ứng, nên xuất khẩu thủy hải sản chỉ đạt 8,4 tỷ USD (giảm 1,9%) so với năm 2019, trong đó thủy sản nuôi (tôm, cá tra) chiếm 62% với 5,2 tỷ USD, thủy sản khai thác chiếm 38% với 3,2 tỷ USD (Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam - VASEP, 2020).
Trên thực tế, các vấn đề về bệnh dịch, hạn hán, xâm nhập mặn hay ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện đang tạo ra nhiều khó khăn và áp lực cho sự phát triển của ngành. Ngoài ra, các rào cản kỹ thuật và giao dịch của các nước nhập khẩu để bảo vệ các doanh nghiệp và người tiêu dùng của họ ngày càng khắt khe hơn. Bên cạnh đó, giá thủy hải sản nguyên liệu không hợp lý so với giá xuất khẩu do chi phí sản xuất trong nước cao (Xuân Thảo, 2017) cũng là một trong các yếu tố tạo nên khó khăn lớn để các doanh nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Theo hiệp hội thủy sản Việt Nam, năm 2019, giữa những bất lợi vì thuế chống bán phá giá cao, thẻ vàng đối với hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp (gọi tắt là “thẻ vàng IUU”) và giá trung bình xuất khẩu giảm, XK thủy sản của Việt Nam đã có kết quả không như mong đợi với gần 8,6 tỷ USD, 3 giảm 2,5% so với năm 2018.
Hai sản phẩm thủy sản nuôi chủ lực là tôm và cá tra đều giảm với mức tương ứng 7,1% và 8,5% so với năm trước, các mặt hàng hải sản cũng bị giảm mạnh ở XK như: mực, bạch tuộc, nhưng bù lại cá ngừ, các loại cá biển và hải sản khác vẫn giữ tăng trưởng dương nên kéo lại phần nào tỷ lệ sụt giảm trong tổng kim ngạch XK thủy sản của cả nước. XK sang thị trường Mỹ, EU, Hàn Quốc, Australia và Canada đều giảm trong khi XK sang Nhật Bản, Trung Quốc và các thị trường khác trong top 10 thị trường lớn nhất vẫn tăng so với năm trước (VASEP, 2020). Tình hình hiện tại cho thấy để phát triển bền vững trên thị trường quốc tế, các DN thủy hải sản chú trọng vào việc nâng cao hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên các rào cản kỹ thuật từ các quốc gia nhập khẩu ngày càng nhiều hơn và khắt khe hơn đã đẩy các DN thủy hải sản vào tình thế khó khăn hơn.
Để đạt được kết quả tốt trong hoạt động xuất khẩu đòi hỏi họ phải có chiến lược thông minh và lâu dài hơn, tìm kiếm được thị trường ổn định và phù hợp hơn. Ở các thị trường quốc tế, nơi cạnh tranh ngày càng tăng, yêu cầu cho sự thành công của DN phụ thuộc vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và giải pháp hành động có liên quan.