CHƯƠNG 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam là quốc gia sở hữu nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội giúp ngành thủy sản có tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, đường bờ biển dài hơn 3.260 km, khu đặc quyền kinh tế với diện tích một triệu km vuông với nhiều ngư trường giàu có cùng hệ sinh thái đa dạng và khí hậu nhiệt đới thích hợp cho nuôi trồng, khai thác nhiều loại thủy sản khác nhau. Tận dụng phát triển những lợi thế đó, Việt Nam luôn là một trong những quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới, đứng thứ nhất Đông Nam Á, thứ hai châu Á và thứ tư thế giới.
Xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm đem đến nguồn cung ngoại tệ lớn giúp cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Vào năm 2022, kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản xuất xác lập kỷ lục 11 tỷ USD chiếm 3% tổng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2021 (8,89 tỷ USD). Thành tích này giúp Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Na Uy), chiếm trên 7% thị phần thế giới với hơn 170 thị trường xuất khẩu, ghi nhận mức kỷ lục trong lịch sử. So với tổng kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước, ngành thủy sản đóng góp gần 12% giá trị.
Thuỷ sản là một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP (tổng sản phẩm quốc nội) của quốc gia và cung cấp việc làm cho hàng triệu người dân. Là một trong những ngành mũi nhọn của cả nước, thủy sản đóng góp đóng góp 3,8% vào GDP Việt Nam năm 2022, với tổng giá trị sản xuất đạt 714.000 tỷ đồng, tăng 4,43% so với năm 2021. Hiện nay, các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam có thể kể đến là: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc. Năm thị trường này đã chiếm gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Ngoài năm thị trường trên, Việt Nam còn xuất khẩu thủy sản sang nhiều thị trường khác như ASEAN, Nga, Úc, Canada và Anh. Trong đó, Vương quốc Anh là thị trường rất tiềm năng cho thủy sản Việt Nam. Theo dữ liệu thống kê từ ITC, thời gian gần đây trung bình Anh chi khoảng 4,32 tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu thủy sản, nhu cầu tiêu dùng thủy sản của người dân nơi đây luôn ở mức cao. Tuy nhiên, thị phần xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Anh còn khá khiêm tốn.
Theo đó năm 2022, Việt Nam là nguồn cung cấp thủy sản lớn thứ tư cho Anh 10 nhưng chỉ chiếm khoảng 7% thị phần. Những con số trên là đáng khích lệ nhưng vẫn khiêm tốn so với tiềm năng thể khai thác và “dư địa” xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Anh còn rất lớn. Như vậy, Việt Nam cần tập trung khai thác tiềm năng to lớn này để tăng kim ngạch xuất khẩu. Vương quốc Anh đã có mối quan hệ thương mại song phương bền vững với Việt Nam trong nhiều năm gần đây, đây là đối tác lớn thứ ba của Việt Nam ở châu Âu.
Khi hiệp định UKVFTA được ký kết đã đánh dấu bước ngoặt trong hợp tác thương mại giữa Anh và Việt Nam, mở ra nhiều cơ hội và mang lại cho nước ta những lợi thế cạnh tranh đáng kể trên thị trường này. Sau gần một năm hiệp định có hiệu lực, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh đạt “kỳ tích” 5,24 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, 7 tháng đầu năm 2021 kim ngạch thủy sản xuất khẩu sang thị trường này đã tăng 1,89% so với cùng kỳ năm ngoái. Qua đây, ta thấy được cơ hội lớn từ UKVFTA trong việc giúp tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường tiềm năng này.
Hiệp định UKVFTA với những ưu đãi thuế quan đã tạo ra ảnh hưởng tích cực trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Anh. Bên cạnh đó, hàng hóa Việt Nam cụ thể là các mặt hàng thủy sản chủ lực cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ hiệp định. Vì vậy, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu tác động của Hiệp định UKVFTA đến việc xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Vương quốc Anh. Từ đó đưa ra giải pháp thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn, nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường này.
TUYÊN BỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đề tài “Nghiên cứu tác động của Hiệp định Thương mại Tự do UKVFTA đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Vương quốc Anh. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu tổng quát Bài nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang Vương quốc Anh trước, chuẩn bị và sau khi Hiệp định Thương mại Tự do UKVFTA có hiệu lực. Đồng thời, nghiên cứu tác động của hiệp định UKVFTA đến xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam.
Từ đó đưa ra các kiến nghị cơ bản cho Chính phủ và các 11 doanh nghiệp để có thể tận dụng hiệu quả hơn các lợi ích cũng như vượt qua các thách thức mà UKVFTA mang lại để thúc đẩy xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang Anh tăng trưởng nhiều hơn, với tốc độ nhanh hơn. Mục tiêu cụ thể Từ mục tiêu tổng quát, nhóm chúng tôi đã xác định được những mục tiêu cụ thể như sau: - Đưa ra cơ sở lý luận về Hiệp định Thương mại Tự do UKVFTA. - Tìm hiểu và tổng hợp nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của hiệp định thương mại đến xuất khẩu. - Nghiên cứu về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Anh.
- Sử dụng mô hình SMART mô phỏng tác động của hiệp định UKVFTA đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Anh. - Đề xuất những giải pháp, kiến nghị đối với Chính phủ, các bộ, ban ngành và doanh nghiệp nhằm tận dụng tốt tiềm năng, cơ hội từ hiệp định UKVFTA và nâng cao khả năng xuất khẩu của thủy sản Việt Nam sang Vương quốc Anh. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của Hiệp định Thương mại Tự do UKVFTA đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Vương quốc Anh.
Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm 01/01/2018 đến 28/02/2024. Không gian nghiên cứu: Không gian của đề tài nghiên cứu đó là thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và thị trường nhập khẩu thủy sản của Vương quốc Anh. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu liên quan đến Hiệp định Thương mại Tự do 12 Aradhna Aggarwal (2004) với nghiên cứu “Impact of tariff reduction on exports: A quantitative assessment of Indian exports to the US” đã đề cập về việc khi Chính phủ nước sở tại giảm thuế nhập khẩu hàng hóa thông qua hiệp định FTA, sức cạnh tranh giữa sản phẩm nhập khẩu và nội địa thay đổi, các sản phẩm ngoại nhập sẽ có nhiều cơ hội hơn ở thị trường trong nước nhờ chính sách thuế mới.
Tác giả Nimonka Bayale và cộng sự (2022) với đề tài “Potential trade, welfare and revenue implications of the African Continental Free Trade Area (AfCFTA) for Ghana: An application of partial equilibrium model” đã sử dụng công cụ SMART như một phương pháp để ước tính những tác động tiềm tàng của việc thực hiện các chính sách của Châu Phi: Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do Lục địa (AfCFTA) dành cho Ghana về mặt thương mại, tác động phúc lợi và thu nhập. Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng rằng tổng tác động thương mại ở Ghana có thể sẽ tăng thêm 148,3 triệu USD đồng thời thúc đẩy phúc lợi của người tiêu dùng bằng 8,597 triệu USD. Trong bài nghiên cứu "How do exports and imports affect the use of free trade agreements? Firm-level survey evidence from Southeast Asia" của nhóm tác giả Shujiro Urata và Yoshifumi Fukunaga (2016) dựa trên ước lượng lợi nhuận từ khảo sát cấp công ty với 630 doanh nghiệp sản xuất khắp Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được tiến hành vào năm 2013. Khảo sát cho thấy rằng tỷ trọng xuất khẩu tăng 1% trong tổng số doanh số bán hàng sẽ tăng khả năng sử dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) lên 0,2%.
Đồng thời tỷ trọng nhập khẩu trong tổng đầu vào tăng 1% sẽ giảm xác suất sử dụng các FTA xuống 0,4%. Kết quả từ kỹ thuật làm mịn phân tác có trọng số cục bộ (LOWESS) cho thấy việc sử dụng FTA có hình dấu ngã và có dạng âm là một hàm số của xuất nhập khẩu. Devkota và Mukti P. Upadhyay (2017) nghiên cứu "Impact of SAFTA on South Asian trade" bằng cách đánh giá Hiệp định Thương mại Tự do Nam Á (SAFTA) đến dòng chảy thương mại song phương.
Kết quả cho thấy khi hiệp định SAFTA đi vào hiệu lực, dòng chảy thương mại của các nước thành viên và các nước không phải thành viên đều tăng lên, từ đó các tác giả có niềm tin rằng SAFTA sẽ phát triển hơn nữa, tạo thành một khối tạo lập thương mại, nhờ đó mà đánh tan nghi ngại của nhiều người rằng SAFTA sẽ có tác động chuyển hướng thương mại đáng kể. Angeles Villareal và Ian F. Fergusson (2017) với nghiên cứu “The North American Free Trade Agreement (NAFTA)” đã chỉ ra rằng thương mại của Mỹ với các đối tác NAFTA đã tăng hơn gấp ba lần kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Kể từ năm 1993, thương mại của Mỹ với Mexico tăng trưởng nhanh hơn thương mại với Canada hoặc với các nước không thuộc NAFTA.
Năm 2011, thương mại ba bên giữa các đối tác NAFTA đạt ngưỡng 1 nghìn tỷ USD. Năm 2016, Canada là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Mỹ, trong khi Mexico đứng thứ hai. Hai nước này chiếm 34% tổng xuất khẩu của Hoa Kỳ trong năm 2016. Về nhập khẩu, Canada và Mexico lần lượt đứng thứ hai và thứ ba với tư cách là nhà cung cấp hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ vào năm 2016.
Hai nước này chiếm 26% tổng lượng nhập khẩu của Hoa Kỳ. Nghiên cứu "Economic evaluation of the trilateral FTA among China, Japan, and South Korea with big data analytics" của nhóm tác giả Liang Biao Cui, Malin Song và Lei Zhu (2019) phân tích định lượng tác động của Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc bằng cách sử dụng phân tích dữ liệu lớn.