Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chống bán phá giá Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Những ảnh hưởng từ chính sách chống bán phá giá của Mỹ tới hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Chương 4.
Một số giải pháp cho Việt Nam để đối phó với chính sách chống bán phá giá khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay, BPG và các công cụ CBPG trong thương mại quốc tế là đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhất là những nhà kinh tế học, các cơ quan chuyên trách về thương mại và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Có thể tổng quan một số công trình tiêu biểu trong và ngoài nước về vấn đề này như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận về chống bán phá giá Công trình nghiên cứu “Rethinking antidumping law” của Bhala (2002) tổng hợp nhiều luận điểm cho trường phái phản đối sử dụng biện pháp CBPG.
Tác giả phân tích khía cạnh kinh tế của hành vi BPG và từ đó cho rằng, có nhiều trường hợp doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa với mức giá thấp không phải để cạnh tranh không lành mạnh mà chủ yếu để giải quyết những tình huống thông thường trong kinh doanh. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ muốn chứng minh sự không cần thiết phải có công cụ CBPG trên bình diện thế giới vì tính phản cạnh tranh, hạn chế tự do thương mại của công cụ này. Còn trên thực tế, trong trường hợp các nước khác vẫn áp dụng công cụ CBPG thì một nước cần có chính sách CBPG cho riêng mình. Công trình nghiên cứu “Antidumping: A developing country perspective” của Reem Raslan (2009) đánh giá tổng thể về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn áp dụng chính sách CBPG của các nước và kết luận rằng, các nước đang phát triển ngày càng bị đối xử không công bằng trong thương mại quốc tế nếu công cụ CBPG ngày càng trở nên phổ biến.
Công trình nghiên cứu “Antidumping, Exchange Rate and Strategic Price Competition by Staged Game” của Hsiang-Hsi Liu, Teng-Kun Wang (2014) nghiên cứu về tỷ giá hối đoái tác động đến quyết định sử dụng công cụ CBPG của chính phủ. Nghiên cứu đã chỉ ra, trong trường hợp đồng tiền của nước nhập khẩu là đồng 5 z tiền mạnh (được định giá cao so với ngoại tệ), nước nhập khẩu thường xuyên tiến hành các cuộc điều tra CBPG hơn vì đồng nội tệ mạnh đã làm tăng chỉ số giá cả và chi phí sản xuất trong nước. Mặt khác, do đồng tiền nước xuất khẩu được định giá thấp hơn, dẫn đến hàng hóa xuất khẩu cũng rẻ hơn tương đối. Nghiên cứu cũng đưa ra khuyến nghị với các chính phủ khi sử dụng công cụ CBPG cần tính toán đến lợi ích tổng thể (phúc lợi toàn xã hội).
Công trình nghiên cứu “Antidumping agreement and Developing countries” của Aradhna Aggarwal (2007) phân tích các nội dung chính của Hiệp định CBPG của WTO và chỉ ra những bất lợi của các nước đang phát triển trong việc thực thi Hiệp định. Nghiên cứu cũng mô tả về thực trạng sử dụng chính sách CBPG của các nước đang phát triển, đồng thời phân tích khía cạnh nội dung luật pháp và khả năng thực thi luật pháp về CBPG của các cơ quan chức năng. Nhìn chung, nhiều công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của chính sách CBPG đã phân tích khá toàn diện về hành vi BPG và việc áp dụng chính sách CBPG của các nước, cụ thể: chỉ ra những động cơ của hành vi BPG trên góc độ vi mô (hành vi của doanh nghiệp) và góc độ vĩ mô (hành vi của Chính phủ); chỉ ra những mặt tích cực và tiêu cực của chính sách CBPG với nền kinh tế của nước áp dụng chính sách này cũng như nước bị điều tra CBPG; phân tích cơ sở luật pháp của WTO với hành vi BPG (Hiệp định Chống bán phá giá), đánh giá về khả năng thực thi và lợi ích đạt được của các nhóm nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau trong WTO. Các công trình nghiên cứu về chính sách chống bán phá giá trên thế giới Công trình nghiên cứu “Antidumping” của Bruce A.Blonigen và Thomas J.Prusa (2001) đã đánh giá công cụ CBPG như một rào cản mạnh nhất trong thương mại quốc tế giai đoạn 1975 - 2000.
Bằng chứng là từ năm 1980 các thành viên GATT/WTO đã nộp hơn khiếu nại theo quy chế CBPG nhiều hơn tất cả các vụ kiện thương mại khác cộng lại. Trên toàn thế giới, các vụ kiện CBPG hàng năm nhiều hơn tổng các vụ kiện cùng loại trong suốt giai đoạn 1947-1970. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đến giữa những năm 1980, hầu hết các vụ kiện CBPG trên thế giới đều 6 z xuất phát từ bốn quốc gia/khu vực chính là Mỹ, Liên minh châu Âu, Úc, và Canada. Sau đó, các vụ kiện CBPG mới bắt đầu được các nước thành viên WTO sử dụng để bảo hộ sản xuất trong nước.
Nghiên cứu chỉ ra, những động cơ của các vụ kiện CBPG bao gồm cả động cơ kinh tế và chính trị. Nghiên cứu cũng mô tả cụ thể những tác động kinh tế trực tiếp và gián tiếp của công cụ CBPG với cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu. Công trình nghiên cứu “The use of antidumping in Brazil, China, India and South Africa - Rules, trends and causes” của Ủy ban Thương mại quốc gia Thụy Điển (2006) nghiên cứu về chính sách CBPG của một số nước đang phát triển và chỉ ra rằng, xu hướng sử dụng công cụ CBPG ở các nước này đang trở nên ngày càng phổ biến. Nguyên nhân chính được cho là xuất phát từ thực tiễn thương mại quốc tế, các quốc gia này đang phải đối mặt với rất nhiều vụ kiện CBPG ở các thị trường xuất khẩu, vì vậy họ phải tăng cường sử dụng công cụ CBPG như một biện pháp tự vệ, trả đũa thương mại.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng khẳng định, việc tăng cường sử dụng chính sách CBPG đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho các quốc gia đang phát triển này. Công trình nghiên cứu “Policy externalities: How US antidumping affects Japanese exports to the EU” của Chad P. Bown và Meredith A. Crowley (2006) nghiên cứu về ảnh hưởng của việc Mỹ áp dụng công cụ CBPG với hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản đến kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản vào Mỹ và EU trong giai đoạn 1992 - 2001.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, do Mỹ sử dụng công cụ CBPG với hàng hóa Nhật Bản khiến kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản vào Mỹ sụt giảm khoảng 1/3 đến ¼. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản vào EU lại tăng, điều này có thể giải thích là do sụt giảm kim ngạch ở thị trường Mỹ, các doanh nghiệp Nhật Bản đã chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường EU. Công trình nghiên cứu “Price dynamics in the import wooden bed market of the United States” của Changyou Sun (2011) nghiên cứu về thị trường giường gỗ nhập khẩu của Mỹ giai đoạn 2002 - 2009, với hai nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc và Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sau khi Mỹ điều tra 7 z CBPG với đồ gỗ nội thất nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2004, thị phần xuất khẩu mặt hàng này của Trung Quốc vào Mỹ đã chuyển dần sang cho Việt Nam.
Nghiên cứu cũng chỉ ra, với việc kim ngạch xuất khẩu sản phẩm giường gỗ của Việt Nam vào Mỹ tăng trưởng nhanh chóng, đồng thời giá xuất khẩu của Việt Nam còn thấp hơn so với Trung Quốc, nếu xu hướng này tiếp diễn, Việt Nam cũng sẽ bị điều tra CBPG tương tự như Trung Quốc. Công trình nghiên cứu “Các giải pháp ứng phó của Việt Nam đối với việc chống bán phá giá trong thương mại quốc tế” của Đinh Thị Mỹ Loan (2009) phân tích tổng thể các khía cạnh lý thuyết về CBPG, đồng thời tổng kết nhiều kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc đối phó với chính sách CBPG ở một số thị trường xuất khẩu. Luận án “Kinh nghiệm sử dụng chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu trên thế giới và bài học cho Việt Nam” của Phạm Đình Thưởng (2012) đã nghiên cứu về kinh nghiệm của các nhóm nước phát triển và đang phát triển trong việc sử dụng chính sách CBPG, trên cơ sở đó tổng kết thành những kinh nghiệm chung nhất về việc xây dựng một chính sách CBPG hiệu quả, toàn diện. Từ đó, tác giả liên hệ với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam để đề xuất những giải pháp cho Việt Nam nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách về CBPG.
Bài viết “Chống bán phá giá trong thương mại quốc tế” của Nguyễn Tiến Vinh (2007) nghiên cứu luật lệ của WTO về BPG và biện pháp CBPG. Bài viết khẳng định, việc áp dụng thuế CBPG đối với hàng hóa nhập khẩu của các quốc gia được GATT trước đây và WTO hiện nay thừa nhận. Mục đích cao nhất của thuế CBPG là nhằm hạn chế và loại bỏ những thiệt hại do hành vi BPG của hàng hóa nước ngoài, nhằm giữ vững thế cân bằng trong cạnh tranh giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất nội địa. Tuy nhiên, trên thực tế cũng có những trường hợp nước nhập khẩu lạm dụng thuế CBPG để bảo hộ ngành sản xuất trong nước.
Từ đó, bài viết khuyến nghị Việt Nam sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tự vệ thương mại nói chung và pháp luật về CBPG nói riêng, trên cơ sở hài hòa hóa với các quy định và thực tiễn của thương mại quốc tế. 8 z Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về chính sách CBPG của các nước trên thế giới đã chỉ ra xu hướng và sự chuyển dịch việc sử dụng công cụ CBPG giữa các khu vực kinh tế chủ yếu trên thế giới trong 3-4 thập niên gần đây; đi sâu phân tích, làm nổi bật đặc điểm chính sách CBPG của một số nước thường xuyên sử dụng công cụ CBPG; nghiên cứu một số vụ kiện CBPG, từ đó làm rõ được mục tiêu của nước khởi kiện, những tác động ảnh hưởng của vụ kiện tới các đối tượng liên quan.