lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hàng rào xanh trong thƣơng mại quốc tế Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng áp dụng hàng rào xanh trong thƣơng mại quốc tế và thực trạng áp dụng tại Việt Nam Chƣơng 4.
Định hƣớng và một số gợi ý xây dựng và áp dụng hàng rào xanh trong thƣơng mại quốc tế đối với Việt Nam 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG RÀO XANH TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu đã thực hiện về hàng rào xanh Đề tài về hàng rào xanh/rào cản môi trƣờng trong thƣơng mại quốc tế đã đƣợc đề cập khá nhiều trong các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học hay các luận văn, luận án. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ sau: Năm 2003, Trung tâm nghiên cứu APEC (Australia) khi nghiên cứu đề tài “Chủ nghĩa đơn phương châu Âu – Rào cản thương mại môi trường và mối đe doạ đến sự thịnh vượng của thương mại ngày càng gia tăng” đã nêu lên đƣợc các tiêu chuẩn quy định môi trƣờng chặt chẽ tác động đến thƣơng mại; các biện pháp thƣơng mại phân biệt đối xử đặt ra vì những mục đích môi trƣờng; các hạn chế thƣơng mại môi trƣờng đơn phƣơng; các biện pháp thâm nhập thị trƣờng với điều kiện chấp nhận các tiêu chuẩn môi trƣờng; các hạn chế thƣơng mại đặt ra theo quy tắc MEAs và coi đó nhƣ là các rào cản môi trƣờng.
Năm 2005, trên cuốn tạp chí thƣơng mại số 19, tác giả Bùi Hữu Đạo đã có bài viết “Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam” với mục đích chỉ rõ các hệ thống quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trƣờng đối với các mặt hàng xuất khẩu mà một số quốc gia đang áp dụng, đồng thời đánh giá khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn về môi trƣờng của một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, từ đó giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể nâng cao đƣợc khả năng cạnh tranh, từng bƣớc vƣợt qua đƣợc các rào cản môi trƣờng đƣợc các quốc gia khác đặt ra. Nhờ đó, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có những cơ hội tốt hơn và thuận lợi hơn trong việc thâm nhập thị trƣờng của những quốc gia đang áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về môi trƣờng đối với mặt hàng xuất khẩu. Cũng trong năm 2005, tác giả Nguyễn Hữu Khải đã xuất bản cuốn sách về “Nhãn sinh thái đối với hàng hoá xuất khẩu và tiêu dùng nội địa”. Đây cũng là một 5 z trong những tiêu chuẩn môi trƣờng đối với hàng hoá xuất khẩu và tiêu dùng nội địa liên quan đến việc gắn nhãn cho các sản phẩm nhằm cung cấp một số thông tin về sản phẩm đó mà các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm để đáp ứng đƣợc những yêu cầu từ nƣớc nhập khẩu, tạo sự tin tƣởng về chất lƣợng cũng nhƣ độ an toàn của sản phẩm đối với ngƣời tiêu dùng từ nƣớc nhập khẩu.
Năm 2006, tác giả Lê Hoàng Lan đã có bài viết trên tạp chí Tia sáng: Thách thức và cơ hội về môi trường khi gia nhập WTO”, đã chỉ ra một số thỏa thuận của WTO có bao hàm những điều khoản liên quan đến môi trƣờng mà các quốc gia thành viên nên nắm rõ để áp dụng các rào cản môi trƣờng một cách hợp lý, đƣa ra cách phân loại những biện pháp đƣợc gọi là “hàng rào xanh” thành hai nhóm rõ rệt và đồng thời, phân tích những cơ hội và thách thức của Việt Nam liên quan đến môi trƣờng khi gia nhập WTO. Năm 2007, cuốn “Sổ tay hướng dẫn về "Rào cản xanh" trong WTO” đƣợc công ty Pi C&E đã biên soạn và phát hành cung cấp những kiến thức cơ bản về "rào cản xanh" trong WTO, kinh nghiệm áp dụng hàng rào xanh trong thƣơng mại quốc tế của các nƣớc Mỹ, EU, Nhật Bản…và những giải pháp đáp ứng cần thiết để hội nhập xu thế toàn cầu hóa trong phát triển kinh tế, đảm bảo vừa bảo vệ quyền lợi của quốc gia, vừa phù hợp với các quy định quốc tế. Cũng trong năm 2007, nhóm tác giả gồm: Nguyễn Hữu Khải, Vũ Thị Hiền, Đào Ngọc Tiến đã biên soạn và xuất bản cuốn sách “Quản lý hoạt động nhập khẩu: Cơ chế, chính sách và biện pháp”. Tài liệu này đã phân tích kinh nghiệm quản lý hoạt động nhập khẩu của một số nƣớc trên thế giới; trong đó có việc sử dụng các rào cản môi trƣờng nhƣ là một biện pháp hữu hiệu trong việc quản lý hàng hóa nhập khẩu của một số quốc gia nhƣ Mỹ, EU, Nhật Bản.
Năm 2008, tác giả Đào Thị Thu Giang đã xuất bản cuốn sách “Biện pháp vượt rào cản phi thuế quan đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam”. Tài liệu này đã phân tích đƣợc tƣơng đối đầy đủ những rào cản phi thuế quan, trong đó có rào cản môi trƣờng. Tác giả đã chỉ rõ những rào môi trƣờng đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam nhƣ: thuỷ sản, dệt may…. vào các thị trƣờng nƣớc ngoài.
6 z Năm 2009, nhóm tác giả từ Trung tâm đối thoại chính sách Bangladesh (CPD) đã có bài nghiên cứu mang tên "Rào cản môi trường và WTO" trong đó có nêu rõ mối quan hệ giữa thƣơng mại và môi trƣờng, đƣa ra cách phân loại các rào cản xanh thành ba nhóm riêng và chỉ rõ vai trò quan trọng của WTO trong việc giảm thiểu các hình thức rào cản môi trƣờng áp dụng trong thƣơng mại quốc tế. Năm 2010, giáo sƣ David Hanson của trƣờng đại học Duquesne của Mỹ đã xuất bản cuốn sách: “Những rào cản đối với thương mại tự do: Các hàng rào phi thuế quan tại Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ”, cuốn sách đã trình bày rất đầy đủ về chính sách thƣơng mại của Mỹ, Nhật Bản và EU, trong đó có đề cập đến một số loại rào cản phi thuế quan đƣợc sử dụng phổ biến tại những khu vực này, đồng thời tác giả cũng so sánh sự tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt về rào cản phi thuế quan đƣợc chính phủ của các nƣớc này áp dụng từ năm 2002 – 2007. Năm 2012, trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nƣớc đƣợc công bố trên Tạp chí nghiên cứu thƣơng mại của PGS. Đinh Văn Thành với tên gọi “Đánh giá thực trạng và đề xuất xây dựng các biện pháp phi thuế quan trong thương mại nhằm bảo vệ môi trường” đã chỉ rõ thực trạng áp dụng các rào cản môi trƣờng tại một số quốc gia nhƣ Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc và Thái Lan, đồng thời đánh giá thực trạng xây dựng các biện pháp phi thuế quan trong thƣơng mại nhằm bảo vệ môi trƣờng ở Việt Nam thời gian qua, từ đó đƣa ra cho Việt Nam những kinh nghiệm trong việc xây dựng và áp dụng các rào cản thƣơng mại nhằm bảo vệ môi trƣờng.
Cũng trong năm 2012, nhóm tác giả gồm: Luật gia Tô Hoài Nam, TS. Bùi Hữu Đạo, TS. Hoàng Thanh Tùng đã biên soạn và xuất bản cuốn sách: “Thách thức về môi trường trong thương mại quốc tế”. Cuốn sách đã đề cập tới mối quan hệ giữa thƣơng mại và môi trƣờng, các công ƣớc quốc tế về môi trƣờng, các rào cản môi trƣờng trong các hiệp định của ASEAN, WTO và quốc tế cũng nhƣ các qui định và tiêu chuẩn môi trƣờng liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp trong thƣơng mại quốc tê.
Đồng thời, các tác giả cũng chỉ rõ những thách thức về môi trƣờng của các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập vào thị trƣờng những quốc gia phát triển nhƣ Mỹ, EU, Nhật Bản, từ đó đƣa ra những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt nam vƣợt hàng rào môi trƣờng trong thƣơng mại quốc tế. 7 z Năm 2013, trong bài nghiên cứu trên Tạp chí Đảng cộng sản: “Hàng Việt Nam trong cuộc chiến với rào cản thương mại quốc tế” của Doãn Công Khánh – Giám đốc Trung tâm Thƣơng Mại và Môi Trƣờng đã chỉ rõ thực trạng việc sử dụng hàng rào phi thuế quan để bảo hộ sản xuất nội địa, đặc biệt là việc sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu gắn với yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn môi trƣờng và lao động tại một số quốc gia, đồng thời tác giả cũng đƣa ra đƣợc những case – study thực tế của Việt Nam và những thiệt hại về xuất khẩu mà Việt Nam phải gánh chịu khi các nƣớc nhƣ Nhật, Mỹ, EU… sử dụng “ hàng rào xanh” nhƣ một biện pháp để bảo hộ sản xuất nội địa. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất một số biện pháp mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng để hạn chế đƣợc những ảnh hƣởng xấu khi các nƣớc áp dụng “hàng rào xanh” và hạn chế việc thâm nhập hàng hóa từ nƣớc ngoài vào thị trƣờng trong nƣớc. Năm 2014, trong bài nghiên cứu trên Tạp chí tài chính: “Xây dựng rào cản phi thuế quan tại một số nước trên thế giới” của TS.
Nguyễn Thị Tƣờng Anh đã đề cập tới kinh nghiệm của một số nƣớc nhƣ EU, Nhật Bản trong việc sử dụng hàng rào phi thuế quan, đặc biệt là là việc sử dụng hệ thống tiêu chuẩn kĩ thuật, qui định về kiểm dịch thực vật và an toàn vệ sinh thực phẩm. Những biện pháp này vừa có thể tận dụng đƣợc lợi thế của hiệp định thƣơng mại tự do mang lại, vừa có thể bảo vệ đƣợc thị trƣờng trong nƣớc. Từ đó, tác giả cũng đƣa ra những bài học cho Việt Nam trong việc áp dụng và xây dựng một số hàng rào phi thuế quan nhằm vƣợt qua đƣợc những thách thức mà quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định thƣơng mại tự do mang lại nhằm thúc đẩy sản xuất trong nƣớc nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc quyền lợi của ngƣời tiêu dùng nội địa. Năm 2014, tác giả Emilija Miteva Kacarski , đã có bài nghiên cứu trên tạp chí khoa học ứng dụng và kinh tế kinh doanh với đề tài “Hàng rào phi thuế quan tại những quốc gia phát triển (trường hợp của Mỹ, EU, Nhật Bản)”.
Bài nghiên cứu đã nêu lên những chính sách về hàng rào phi thuế quan cũng nhƣ thực tiễn áp dụng tại những quốc gia này. Đồng thời bài nghiên cứu cũng so sánh sự khác biệt về những 8 z qui định về hàng rào phi thuế quan đƣợc sử dụng tại Mỹ, Nhật Bản, EU trong giai đoạn 2008 – 2013.