Chương 1 - Những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp đinh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Chương 2 - Tình hình thực hiện các qui định về dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Chương 3 - Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhằm đáp ứng các qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Đề tài được thực hiện trong điều kiện công tác thống kê số liệu toàn ngành chưa hoàn thiện, việc trao đổi cập nhật thông tin giữa các cơ quan quản lí bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm còn nhiều hạn chế, vì vậy luận văn không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý chân thành của các Thày, Cô giáo, đồng nghiệp và bạn bè. Tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Trịnh Thị Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa sau đại học, các Thày, các Cô đã giảng dạy lớp Cao học 9, Trường đại học Ngoại thương Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền bá những kiến thức quí báu, sâu rộng, giúp tôi có nền tảng khoa học để thực hiện đề tài nghiên cứu này. Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp tại Phòng quản lý bảo hiểm – Bộ tài chính, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Bảo hiểm Việt Nam, Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt 6 Nam, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam trong việc cung cấp thông tin và số liệu thống kê, giúp tôi hoàn thành luận văn này. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM Nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm là phân bổ rủi ro. Trong khi đó, rủi ro lại luôn vận động, không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà có thể di chuyển đến một hoặc nhiều nước khác, có liên quan đến quyền lợi của các tổ chức và cá nhân thuộc nhiều quốc tịch.
Vì vậy sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam không thể tách rời và đứng ngoài xu thế hội nhập quốc tế. Hiệp định BTA có thể coi là bước đầu tiên thể hiện những cam kết cụ thể và rõ ràng nhất cả về lộ trình cũng như nội dung hội nhập của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Để tìm hiểu nội dung những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm dịch vụ bảo hiểm và những vấn đề liên quan.1 Khái niệm dịch vụ bảo hiểm 1.1 Dịch vụ Mặc dù thuật ngữ “dịch vụ” được sử dụng thường xuyên và luôn xuất hiện như là tiêu điểm của các cuộc đàm luận hay trao đổi, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ. Chính tính vô hình, khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng và phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc nêu lên được một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ gặp nhiều khó khăn.
Theo quan điểm của Các Mác – cha đẻ của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử – dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển [7, tr. 8 Vào những năm cuối thế kỷ 20, khi dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà kinh tế, khoa học, người ta thường có hai cách hiểu về dịch vụ. Dịch vụ, hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực kinh tế thứ 3 trong nền kinh tế quốc dân, do đó theo cách hiểu này thì những hoạt động nào nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ này là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh, thương mại, bao gồm các hoạt động hỗ trợ trước, trong và sau khi bán hàng.
Với nghĩa này, dịch vụ được coi là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng. Theo Tạp chí "Nhà kinh tế", dịch vụ (service) "là bất kỳ cái gì đem bán mà không thể rơi vào bàn chân bạn". Như vậy có thể hiểu dịch vụ là một sản phẩm vô hình, không nhìn thấy được và không nắm bắt được. Dịch vụ là một sản phẩm vì nó là kết quả sức lao động của con người, được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người.
Tỷ trọng ngành dịch vụ đang ngày càng tăng lên trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong cơ cấu nền kinh tế của các nước, như ở Mỹ là 73% GDP, EU 63%, Nhật Bản 56%, Singapore 60%. Cuối thế kỷ XX ở các nước công nghiệp phát triển, số người lao động trong lĩnh vực dịch vụ thường chiếm trên 70% [12, tr. Ở Việt Nam, theo Tổng cục thống kê, thu nhập từ dịch vụ chiếm khoảng 40% tổng thu nhập quốc dân và tỷ lệ này tiếp tục tăng lên qua từng năm. Ngành dịch vụ cũng là ngành ngày càng mở rộng về số lượng, qui mô, tốc độ, trở thành ngành cho số người làm việc và giá trị sản xuất ngày càng lớn.
Vì vậy có thể thấy rõ rằng dịch vụ là loại sản phẩm tạo ra giá trị thặng dư cao do có sự khai thác sức lao động, trí thức và chất xám của con người. 9 Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã phân loại dịch vụ thành 155 phân ngành, thuộc 12 khu vực sau đây : - Dịch vụ kinh doanh gồm : nghề nghiệp, máy tính và liên quan, nghiên cứu và triển khai, bất động sản, cho thuê, dịch vụ kinh doanh khác ; - Dịch vụ thông tin, liên lạc gồm : bưu điện, chuyển phát nhanh, viễn thông, nghe nhìn, dịch vụ khác ; - Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật gồm : xây dựng nhà cửa, lắp đặt máy móc, hoàn thiện các công trình ; - Dịch vụ phân phối gồm : đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ, đại lý độc quyền, dịch vụ khác ; - Dịch vụ đào tạo gồm : tiểu học, trung học, đại học, dịch vụ giáo dục khác ; - Dịch vụ môi trường gồm : thoát nước, xử lý chất thải, vệ sinh và tương tự, dịch vụ khác ; - Dịch vụ tài chính bảo hiểm gồm : bảo hiểm và liên quan, ngân hàng và liên quan, dịch vụ tài chính khác ; - Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và xã hội gồm : chữa bệnh, bệnh viện, dịch vụ khác ; - Dịch vụ du lịch và liên quan gồm : khách sạn và nhà hàng, đại lý và điều hành du lịch, hướng dẫn du lịch, dịch vụ khác ; - Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao gồm : giải trí, tin tức, thư viện, kiến trúc, bảo tàng. thể thao và giải trí khác ; - Dịch vụ vận tải gồm : vận tải đường biển, vận tải thuỷ nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải ôtô, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ, vận tải đa phương thức, dịch vụ vận tải khác ; - Dịch vụ khác. Cũng giống như trong Hiệp định GATS của WTO, dịch vụ theo BTA, là bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, trừ các dịch vụ được cung cấp 10 khi thi hành thẩm quyền của chính phủ.
Dịch vụ được cung cấp khi thi hành thẩm quyền của chính phủ là dịch vụ được cung cấp không dựa trên cơ sở thương mại cũng như không dựa trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ định nghĩa thương mại dịch vụ theo bốn “hình thức cung cấp” mà dịch vụ được cung cấp như sau : + Từ lãnh thổ của một Bên vào lãnh thổ của Bên kia; + Tại lãnh thổ của một Bên cho người sử dụng dịch vụ của Bên kia; + Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một Bên thông qua sự hiện diện thương mại tại lãnh thổ của Bên kia; + Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một Bên thông qua sự hiện diện của thể nhân của một Bên tại lãnh thổ Bên kia. Như vậy theo BTA, các công ty của Mỹ và Việt Nam có thể cung cấp dịch vụ cho nhau theo 4 hình thức cung cấp dịch vụ nói trên. "Cung cấp dịch vụ, theo BTA, không chỉ là việc bán mà còn gồm việc sản xuất, phân phối, tiếp thị và cung ứng dịch vụ.
Bốn hình thức cung cấp dịch vụ qui định trong BTA cũng chính là 4 hình thức cung cấp dịch vụ trong WTO. Tuỳ từng loại dịch vụ mà hai bên phải sử dụng các hình thức cung cấp thích hợp.2 Bảo hiểm Có nhiều khái niệm về bảo hiểm hiện đang được sử dụng trên thị trường bảo hiểm thế giới. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ đưa ra một số khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới. - Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ thì : "Bảo hiểm là việc chuyển giao những rủi ro do các tổn thất bất ngờ và ngẫu nhiên gây ra từ người được bảo hiểm sang cho người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường cho những tổn thất này; cung cấp các quyền lợi 11 bằng tiền khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro cho người được bảo hiểm." - Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì : " Bảo hiểm là sự thoả thuận qua đó một bên (Người bảo hiểm) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (Người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm.
Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm sang người bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi hỏi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm.