mở đầu quá trình không phải với tư cách là giá trị ứng trước mà với tư cách là giá trị tăng thêm. Là tất cả những của cải nằm dưới hình thái hàng hoá, mà giá trị tư bản ứng trước chi là một bộ phận thôi. Những hình thái này không thích hợp cho việc nghiên cứu sự chu chuyển của một tư bản bao giờ cũng bắt đầu bằng việc tư bản ứng trước và bao giờ cũng đòi hỏi giá trị tư bản đang lưu thông phải quay trở về hình thái mà nó đã ứng ra. Nếu xem xét ảnh hưởng của chu chuyển đến giá trị thặng dư trong tuần hoàn I và II thì nên xem xét trong tuần hoàn I, nếu nói đến ảnh hưởng của sự chu chuyển đối với việc tạo ra sản phẩm thì cần xem xét tuần hoàn II.
Sau khi toàn bộ giá trị tư bản mà một nhà tư bản cá biệt bỏ vào một ngành sản xuất nào đó, hoàn thành tuần hoàn trong sự vận động của nó, thì nó lại trở về hình thái ban đầu của nó và lại có thể diễn lại cùng một quá trình như thế. Muốn cho giá trị được bảo tồn mãi mãi và tiếp tục tăng thêm giá trị với tư cách là giá trị tư bản thì nó phải lặp lại tuần hoàn ấy. 14 Tuần hoàn của tư bản khi được coi là một quá trình định kỳ chứ không phải là một hành vi cá biệt thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển ấy được quyết định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời gian lưu thông cộng lại.
Tổng số thời gian ấy là thời gian chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản bao quát khoảng thời gian từ một định kỳ tuần hoàn của tổng giá trị tư bản đến định kỳ tuần hoàn tiếp theo. Nếu không nói đến sự ngẫu nhiên riêng rẽ có thể đẩy mạnh hay rút ngắn thời gian chu chuyển đối vơí một tư bản cá biệt thì thời gian chu chuyển ấy nói chung sẽ khác nhau tuỳ theo những sự khác nhau của các lĩnh vực đầu tư cá biệt của tư bản.2) Tư bản cố định, tư bản lưu động. Khi nghiên cứu tốc độ chu chuyển của tư bản chúng ta xem các bộ phận tư bản chu chuyển như nhau.
Nhưng trong thực tế, giá trị các bộ phận tư sản sản xuất chuyển vào sản phẩm theo phương thức khác nhau. Như chúng ta đã biết một bộ phận của tư bản bất biến nếu đem đối chiếu nó với những sản phẩm mà nó góp phần để chế tạo, thì rõ ràng là giữ nguyên hình thái sử dụng nhất định của nó như lúc mới bước vào quá trình sản xuất. Bộ phận tư bản bất biến đó chuyển vào giá trị cho sản phẩm theo mức độ mà bản thân nó hao phí mất giá tự trao đổi, song song với gía trị sử dụng của nó. Đặc trưng của bộ phận tư bản bất biến đó là: Một bộ phận của tư bản đã được ứng ra dưới hình thái tư bản bất biến, nghĩa là dưới hình thái những tư liệu sản xuất để từ đó, hoạt động làm một yếu tố của quá trình lao động, trong suốt thời gian nó giữ được hìn thái sử dụng đặc thù của nó như khi mới gia nhập quá trình lao động ấy.
Các tư liệu sản xuất khi đã vào quá trình sản xuất thì không bao giờ ra khỏi quá trình sản xuất. Một bộ phận của giá trị tư bản ứng ra được cố định dưới hình thái ấy, hình thái ấy là do chức năng của tư liệu lao động trong quá trình sản xuất quyết định. Do hoạt động khi lao động một bộ phận đi vào vật phẩm một bộ phận nó bị hao mòn còn một bộ phận vẫn cố định trong tư liệu lao động. Tư liệu lao động càng bên lâu, càng ít hao mòn thì giá trị tư bản bất biến sẽ được 15 cố định dưới hình thái sử dụng ấy trong một thời gian càng lâu.
Nhưng bất luận thế nào thì số lượng nhượng đi tỉ lệ nghịch với thời gian hoạt động của nó. Bộ phận tư bản cố định trong tư liệu sản xuất cũng lưu thông, nó lưu thông không phải dưới hình thái sử dụng mà nó lưu thông dưới hình thái gia trị. Giá trị của nó lưu thông dần dần theo nhịp độ để chuyển vào sản phẩm. Trong suốt quá trình sản xuất giá trị của nó nằm trong nó một cách cố định, độc lập với hàng hoá mà nó góp phần sản xuất ra.
Đây là đặc điểm khiến tư bản bất biến mang hình thái tư bản cố định. Từ đó ta có định nghĩa về tư bản cố định. Tư bản cố didnhj là bộ phận tư bản sản xuất mà bản thân nó tham gia hoàn toàn vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó lại không chuyển hết một lần mà chuyển dần từng phần vào sản phẩm. Tư bản cố định có hình thái lưu thông đặc biệt thì cũng có một cách chu chuyển đặc biệt phần giá trị bị mất do hao mòn tự nhiên thì giờ lưu thông chuyển nó thành tiền, một phần nữa là giá trị của tư liệu lao động.
Như vậy tư bản cố định tồn tại hai hình thái giá trị. Một bộ phận gắn liền với hình thái sử dụng, một bộ phận chuyển thành tiền. Ta thấy một bộ phận của giá trị tư bản, ứng ra dưới hình thái tư liệu sản xuất, nó có mang bản chất là tư bản cố định hay không còn phụ thuộc vào pưhơng thức lưu thông. Chúng ta biết một sản phẩm khi bước ra khỏi với hình thái hàng hoá mà lại quay trở về với sản xuất mang tính hình thái tư liệu sản xuất, chính vì hoạt động này nên chúng ta trở thành tư bản cố định.
Nhưng khi chúng mới chỉ bước ra khỏi một quá trình thì nó không phải là tư bản cố định. Mặt khác, tư liệu sản xuất khi nhà tư bản đưa vào sản xuất thì nó chuyển hết giá trị của nó vào giá trị cuả sản phẩm. Do đó ta thấy tư liệu sản xuất không phải kể tư bản cố định. Bây giờ ta nói đến yếu tố khả biến của tư bản sản xuất, tức là tư bản chi ra để mua sức lao động.
Sức lao động được mua trong thời gian nhất định. Khi nhà tư bản đã mua sức lao động và đưa nó vào quá trình sản xuất thì sức lao động trở thành một yếu tố của tư bản. Khi đưa sức lao động vào quá trình sản xuất, trong một thời gian nhất định sức lao động không những làm ra một 16 lượng giá trị bằng với lượng giá trị của vật ngang giá mà nhà tư bản trả công cho người công nhân đó thì sức lao động còn làm ra một lượng giá trị tăng thêm không được trả công bằng vật giang giá. Lượng giá trị thăm thêm đó gọi là giá trị thặng dư.
Sức lao động khi đã được mua và hoạt động. Giá trị của nó không ngừng chuyển vào giá trị của sản phẩm. Theo một thời gian nhất định, sức lao động lại được mua tiếp, nó được mua liên tục và không ngừng. Cái ngang giá với giá trị của sức lao động mà nó chuyển vào sản phẩm trong khi hoạt động để chuyển hoá thành tiền trong quá trình lưu thông của sản phẩm.
Cái giá trị đó nhấta thiết phải không ngừng được chuyển hoá từ tiền thành sức lao động, phải không ngừng đi qua toàn bộ vòng tuần hoàn của các hình thái của nó, nói một cách khác phải không ngừng luân chuyển thì vòng tuần hoàn của sản xuất mới có thể tiếp tục không bị gián đoạn. Như vậy, bộ phận giá trị của tư bản sản xuất bỏ ra để mua sức lao động được chuyển toàn bộ vào sản phẩm và cùng với sản phẩm thông qua hai biến hoá hình thái thuộc lĩnh vực lưu thông, do sự đổi mới không ngừng, nên bộ phận đó luôn luôn gắn vào quá trình sản xuất. Mặc dù về mặt hình thành giá trị, giữa sức lao động và những yếu tố bất biến không là phải là tư bản cố định, có sự khác nhau thế nào chăng nữa thì phương thức chu chuyển lại giống nhau và đối lập với tư bản cố định. Những yếu tố của tư bản sản xuất đối lập với tư bản cố định do các tính chất chung đó của phương thức chu chuyển của chúng vì chúng là tư bản luân chuyển hay tư bản lưu động.
Từ đó ta có định nghĩa về tư bản cố lưu động. Tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất mà giá trị của nó sau một thời kỳ sản xuất có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà tư bản dưới hình thức tiền tệ sau khi hàng hoá đã bán xong. Giá trị của sức lao động và tư liệu sản xuất chỉ bỏ ra trong thời gian cần thiết để chế tạo ra sản phẩm. Căn cứ vào quy mô sản xuất do khối lượng tư bản cố định quyết định.
Giá trị này nhập toàn bộ vào sản phẩm, do việc bán sản phẩm toàn bộ giá trị đó từ trong lưu thông quay trở về và lại có thể ứng ra lần nữa. Sức lao động và tư liệu sản xuất phải không ngừng thay thế và đổi mới bằng cách mua lại và chuyển chúng từ hình thái tiền tệ thành yếu tố sản 17 xuất. Sức lao động và tư liệu sản xuất không ngừng trải qua toàn bộ vòng tuần hoàn của các biến hoá hình thái; chúng không ngừng chuyển hàng hoá trở lại các yếu tố sản xuất và lại chuyển hoá trở lại cùng thứ hàng hoá đó. Khi chia tư bản ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động cũng là một bộ phận chia khoa học, hợp lý.
Sự phân chia này rất cần thiết cho quản lý kinh tế, tuy nhiên chúng ta không nên nhầm lẫn với sự phân chia thành tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa trên tác dụng khác nhau của các bộ phận khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Tư bản cố định chu chuyển chậm hơn tư bản lưu động. Khi tư bản cố định chu chuyển được một vòng thì tư bản lưu động chu chuyển được nhiều vòng. Ngay trong tư bản cố định thời gian chu chuyển của các yếu tố là không giống nhau.
Chúng ta đề cập đến vấn đề hao mòn ở trên. Có hai hình thức phân chia hao mòn của tư bản cố định: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là hao mòn do sự sử dụng và do tác động của thiên nhiên làm cho những bộ phận cuả tư bản cố định dần hao đi đến chỗ hỏng, không sử dụng được nữa.