CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG 1.1 KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.1 Khái niệm và đặc điểm Thị trường liên ngân hàng. - Thị trường liên ngân hàng là một thành phần cơ bản của Thị trường tiền tệ, là nơi diễn ra các giao dịch vay mượn vốn ngắn hạn lẫn nhau giữa các NHTM và các định chế tài chính, là nơi điều tiết nguồn vốn từ ngân hàng thừa vốn sang ngân hàng thiếu vốn thông qua các hợp đồng, xác nhận gửi nhận vốn hoặc hợp đồng cho vay vốn. - Thị trường liên ngân hàng giúp cho dòng vốn được lưu thông thông suốt, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động của các NHTM và định chế tài chính, đảm bảo khả năng thanh khoản tức thời của các NHTM. - Thị trường liên ngân hàng là thị trường bán sỉ nguồn vốn với các kỳ hạn khá đa dạng và ngắn hạn như qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng.
Các giao dịch trên Thị trường liên ngân hàng hầu như thực hiện dưới hình thức tín chấp và dựa trên cơ sở uy tín, xếp hạng tín dụng và định mức tín nhiệm của các NHTM. Các giao dịch được thực hiện thông qua các công cụ giao dịch điện tử và xác nhận bằng hệ thống SWIFT.1: Các thành phần của Thị Trường Tiền Tệ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ (MONEY MARKET) TT LIÊN NGÂN HÀNG TT CÔNG CỤ NỢ NGẮN THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI (INTERBANK MARKET) HẠN (SHORT TERM LOAN (FOREX MARKET) MARKET) 123doc 11 1.2 Những yếu tố cơ bản của Thị trường liên ngân hàng.1 Đối tượng tham gia. Bất cứ một thị trường nào cũng đều có người mua và người bán. Trên Thị trường liên ngân hàng, người mua và người bán chính là các NHTM và các định chế tài chính đủ điều kiện tham gia thị trường.
Ngân hàng Trung ương cũng tham gia thị trường với vai trò là người phát hành lần đầu và điều tiết thị trường.2 Lãi suất liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng (interbank offered rate) chính là giá mua bán vốn trên Thị trường liên ngân hàng, là một yếu tố cơ bản của Thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng là mức lãi suất tham chiếu hình thành trên cơ sở lãi suất của các giao dịch gửi và nhận vốn giữa các ngân hàng trên thị trường của từng khu vực, từng quốc qua. Tùy theo khu vực hay quốc gia mà ta có lãi suất liên ngân hàng của khu vực hay quốc gia đó. Chẳng hạn lãi suất LIBOR là lãi suất liên ngân hàng trên thị trường Luân Đôn, nó cũng đồng thời phản ánh mức lãi suất giao dịch của các loại tiền tệ cơ bản tại khu vực Châu Âu; lãi suất SIBOR là lãi suất liên ngân hàng trên thị trường Singapore, nó cũng đồng thời phản ánh mức lãi suất giao dịch của các loại tiền tệ cơ bản tại Khu vực Châu Á; lãi suất VNIBOR là lãi suất liên ngân hàng của Việt Nam,.
Tình hình biến động của lãi suất liên ngân hàng phản ánh cung cầu vốn trên thị trường và khả năng thanh khoản của thị trường. Lãi suất liên ngân hàng tăng phản ánh cung về nguồn vốn ít, trong khi thị trường đang có nhu cầu vốn cao, nguồn vốn có dấu hiệu bắt đầu khan hiếm và lúc đó thanh khoản của các ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Ngược lại, lãi suất liên ngân hàng giảm phản ánh lượng cung vốn trên thị trường nhiều, trong khi nhu cầu nguồn vốn thấp, nguồn vốn trên thị trường dồi dào và lúc đó khả năng thanh khoản của các ngân hàng dồi dào.3 Cung và cầu trên Thị trường liên ngân hàng. Thị trường liên ngân hàng là nơi diễn ra các giao dịch về vốn giữa các định chế tài chính nên thường xuyên phát sinh cung cầu về nguồn vốn giữa các định chế tài chính.
Tại cùng một thời điểm, đối tác này thì có nhu cầu về nguồn vốn, trong khi đối tác 123doc 12 khác lại có khả năng cung ứng về nguồn vốn, hai đối tác gặp nhau trên thị trường và thỏa thuận với nhau các điều kiện cụ thể để bên này có thể chuyển giao quyền sử dụng vốn cho bên kia trong một khoảng thời gian nhất định và với một chi phí nhất định là lãi suất.4 Hàng hóa của Thị trường liên ngân hàng. Bất cứ một thị trường nào thì cũng phải có sản phẩm hàng hóa để mua bán mới hình thành nên thị trường, sản phẩm của Thị trường liên ngân hàng chính là nguồn vốn (tiền), hàng hóa được luân chuyển từ người có nhu cầu sang người khả năng đáp ứng với một mức giá nhất định hình thành qua cung cầu về hàng hóa.5 Các công cụ của Thị trường liên ngân hàng. Các công cụ trên TTLNH là các phương tiện để người mua và người bán thực hiện các giao dịch với nhau trên thị trường. Các công cụ giao dịch trên TTLNH bao gồm: thỏa thuận tiền gửi, GTCG đủ tiêu chuẩn các loại, các công cụ phái sinh và các công cụ khác được thị trường chấp nhận.6 Các yếu tố khác.
Bao gồm các yếu tố giúp thị trường hoạt động và vận hành thông suốt như các quy định, luật điều chỉnh, thông lệ, tập quán giao dịch trên thị trường, phương thức thanh toán, phạm vi hoạt động của thị trường,… 1.2 CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ TRÊN THỊ TRƯỜNG. Do tính chất đặc điểm của thị trường, Thị trường liên ngân hàng là nơi diễn ra các giao dịch tiền tệ giữa các đối tượng sau đây: 1.1 Ngân hàng trung ương. Ngân hàng Trung ương tham gia Thị trường liên ngân hàng với vai trò người điều tiết, dẫn dắt và quản lý thị trường, Ngân hàng trung ương cũng tham gia thị trường với vai trò là nhà phát hành lần đầu các công cụ, sản phẩm giao dịch trên thị trường. Việc 123doc 13 Ngân hàng trung ương tham gia vào thị trường sẽ giúp cho việc nắm rõ tình hình thực tế và có những quyết sách kịp thời nhằm quản lý và điều hành thị trường hoạt động một cách hiệu quả.2 Ngân hàng thương mại.
Đây là đối tượng tham gia đông đảo nhất trên thị trường. Do tính chất hoạt động, thông thường các NHTM tham gia giao dịch trên thị trường với khối lượng giao dịch tương đối lớn so với các đối tượng khác. Các NHTM tham gia thị trường với vai trò là người mua và người bán vốn, hình thành nên cung cầu nguồn vốn trên thị trường. Tất cả các hoạt động trên thị trường của NHTM phải tuân theo các quy định có liên quan do NHNN ban hành.3 Các định chế tài chính phi ngân hàng.
Các định chế tài chính phi ngân hàng như các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính,…Đây cũng là đối tượng tham gia thị trường tương đối thường xuyên. Tuy nhiên, với một số hạn chế về chức năng hoạt động nghiệp vụ nên các tổ chức này cũng có những hạn chế khi tham gia thị trường. Các công ty tài chính và cho thuê tài chính tham gia thị trường với vai trò là người mua và người bán vốn, tạo nên cung cầu nguồn vốn trên thị trường. Tất cả các hoạt động trên thị trường của NHTM phải tuân theo các quy định có liên quan do NHNN ban hành.4 Các định chế tài chính khác.
Gồm có các Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ, Qũy đầu tư, Công ty bảo hiểm, và các tổ chức tài chính khác được tham gia thị trường với một số điều kiện nhất định như quy mô vốn, tài sản, khả năng quản lý rủi ro, trình độ và đội ngũ nhân viên,…các tổ chức này tham gia thị trường không thường xuyên do tính chất và phạm vi hoạt động của các tổ chức này. Các tổ chức này tham thị trường cũng với vai trò là người mua và người bán vốn, hình thành nên cung cầu thị trường và phải chấp hành các quy định có liên quan.3 CÁC LOẠI HÌNH GIAO DỊCH VÀ CÔNG CỤ GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG.1 Thỏa thuận tiền gửi (hay xác nhận hoặc hợp đồng tiền gửi). Các thỏa thuận hay xác nhận hay hợp đồng tiền gửi là một công cụ chủ yếu của Thị trường liên ngân hàng. Thỏa thuận tiền gửi là việc hai đối tác cùng thỏa thuận với nhau về việc đối tác này sẽ gửi hoặc nhận (vay và cho vay) một khối lượng vốn nhất định trong một kỳ hạn nhất định và với mức lãi suất cụ thể.
Các chi tiết của một thỏa thuận tiền gửi như sau: - Số tiền: là số lượng vốn mà hai bên thỏa thuận đồng ý gửi và nhận gửi lẫn nhau, số tiền này được xác định trên nhu cầu và khả năng đáp ứng của các bên khi tiến hành giao dịch. - Kỳ hạn giao dịch: là kỳ hạn được xác định do thỏa thuận giữa hai bên trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng của mỗi bên. - Ngày giao dịch, ngày giá trị và ngày đáo hạn: Ngày giao dịch là ngày mà hai bên tiến hành thỏa thuận giao dịch với nhau, ngày giá trị là ngày có hiệu lực của thỏa thuận và ngày đáo hạn là ngày hết hạn của kỳ hạn giao dịch tính từ ngày giá trị. - Lãi suất và phương thức trả lãi: lãi suất là giá hay chi phí sử dụng vốn mà nên sử dụng vốn phải trả cho bên có nguồn vốn, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên theo lãi suất thị trường và theo quy định của pháp luật.
Có hai loại lãi suất là lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi, thông thường lãi suất trong giao dịch tiền gửi là lãi suất cố định; đôi khi thị trường cũng thỏa thuận áp dụng lãi suất thả nổi đối với các kỳ hạn dài và khi thị trường có nhiều biến động. Phương thức trả lãi bao gồm trả lãi vào ngày đáo hạn, trả lãi trước hay trả lãi định kỳ; phương thức trả lãi do hai bên thỏa thuận, thông thường các thỏa thuận tiền gửi đều áp dụng trả trả lãi cuối kỳ. 123doc 15 - Cơ sở tính lãi: hai bên thỏa thuận xác định cơ sở tính lãi là một năm có bao nhiêu ngày và tính lãi theo số ngày thực tế hay tính tròn tháng, thông thường cơ sở tính lãi của các thỏa thuận tiền gửi là một năm có 360 ngày và tính trên số ngày thực tế giao dịch. - Chỉ dẫn thanh toán, là việc hai bên thỏa thuận và chỉ ra phương thức thanh toán và tài khoản thanh toán cho thỏa thuận tiền gửi tại ngày giá trị của giao dịch và ngày đáo hạn giao dịch.