CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT LẠM PHÁT VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VỀ LẠM PHÁT Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
Thông thường, người ta hiểu theo nghĩa đầu tiên là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn hiểu theo nghĩa thứ hai là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Như vậy, có thể nhận thấy rằng sự tăng lên của giá cả chính là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát. Việc xem xét lạm phát tập trung vào nghiên cứu những biểu hiện của lạm phát, thể hiện qua việc gia tăng của mức giá chung với tốc độ cao và kéo dài. Để đo lường mức giá chung trong nền kinh tế, người ta thường dùng các khái niệm chỉ số giá.
Chỉ số giá bao gồm một số loại như: chỉ số giá bán lẻ - CPI - Consumer Price Index, chỉ số giá bán buôn - WPI - Wholesale price index, Chỉ số giá sản xuất - PPI - Producer Price Index,. song thông thường thì người ta dùng chỉ số giá bán lẻ để đo lường mức độ lạm phát. Nếu nền kinh tế năm nay có lạm phát 10%/năm tức là mức giá chung trong nền kinh tế tăng lên 10% so với năm trước đó. Điều đó không có nghĩa là giá cả của tất cả các hàng hóa đều tăng lên cùng một tỷ lệ 10%, mà những hàng hóa khác nhau sẽ có những tỷ lệ tăng khác nhau và thậm chí có những mặt hàng giá giảm hoặc giá không đổi.
Về bản chất, lạm phát là do khối lượng tiền tệ trong lưu thông vượt quá khối lượng hàng hóa và dịch vụ cung ứng, dẫn đến sự tăng giá đồng loạt, liên tục và ở mức đáng kể. Từ đó, người ta thường lấy chỉ số giá tăng để nói lên mức độ lạm phát. Lạm phát thường đi kèm với tăng trưởng kinh tế, tăng số lượng công ăn việc làm. Bản chất lạm phát không xấu, bởi lạm phát ở mức kiểm soát được sẽ kích thích đầu tư, xuất 123doc -5- khẩu và cải thiện công ăn việc làm.
Song, lạm phát khi tăng quá mức (đến 2 con số trở lên) và ngoài tầm kiểm soát sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế và cuộc sống người dân. CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ LẠM PHÁT Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển và cận đại thì lạm phát dưới chủ nghĩa tư bản là sự tràn ngập trên các kênh lưu thông một khối lượng dấu hiệu giá trị (tiền giấy) quá thừa dẫn đến làm mất giá từng phần dấu hiệu giá trị so với mệnh giá danh nghĩa của nó. Khi đó, các nhà kinh tế học cho rằng khối lượng tiền bơm ra lưu thông (Kc) lớn hơn khối lượng tiền cần thiết hay sức hấp thụ của thị trường hàng hóa (Kt) mà biểu hiện là tiền giấy mất giá so với hàng, với vàng, với ngoại tệ. Người dân không muốn giữ tiền và không muốn đem tiền đến gửi tại các ngân hàng mà chuyển vào đầu tư trực tiếp hoặc ồ ạt rút ra để mua sắm bất động sản, tích trữ vàng.
Kết quả là hệ thống Ngân hàng thì thiếu tiền mặt nghiêm trọng, nạn khất nợ trở thành phổ biến trong khi tiền ngoài lưu thông tràn ngập, các nhu cầu vay qua ngân hàng bị từ chối vì không có nguồn để đáp ứng. Người có hàng thì mặc sức tăng giá với tốc độ lớn hơn tốc độ lạm phát, người có thu nhập bằng tiền thì bị tước đoạt dần. Cũng theo các nhà kinh tế học cổ điển thì dường như nạn lạm phát dưới chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn do ý chí chủ quan của giai cấp bóc lột thông qua quyền thao túng hệ thống các ngân hàng (trước hết là NHTƯ) gây ra. Từ đó, họ đã nhìn lạm phát như một tai họa từ phía thể chế mà muốn khắc phục nó hầu như chỉ có thể thông qua một cuộc cách mạng tư sản.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì lạm phát là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất kỳ chế độ xã hội nào. Các nhà kinh tế này cho rằng biểu hiện của lạm phát là: mức giá chung của hàng hóa và chi phí sản xuất đồng thời tăng lên một cách phổ biến trong một khoảng thời gian đủ dài để nhận rõ xu hướng này. Do đó, nếu giá cả chỉ tăng ở một vài nhóm hàng mang tính đột biến hay tính thời vụ thì phải loại bỏ các yếu tố đó theo cách tính chỉ số lạm phát cơ bản.
Lạm phát phản ánh thuần túy quan hệ hàng - tiền trên một quy mô phổ biến và có thời gian đủ dài để khẳng định xu hướng của nó. Nguyên nhân của lạm phát bao gồm một 123doc -6- tổ hợp rất nhiều những nhân tố trong đó có thể chia ra thành một số nhóm chủ yếu như: lạm phát do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế và lạm phát do tình trạng không ổn định về kinh tế - chính trị - xã hội tạo thành tâm lý đẩy giá lên và đồng tiền bị mất uy tín trong nền kinh tế. Trong các nhân tố nói trên, ba nhóm nhân tố đầu tiên có tác động mang tính thường xuyên và cơ bản nhất đến các cấp độ phát sinh của lạm phát. Vậy một điều cần rút ra ở đây là: Dù theo quan điểm nào thì nói chung lạm phát vẫn là một hiện tượng kinh tế khách quan và là đối tượng cần đặc biệt quan tâm của mọi CP.
Trong nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ nói chung và nền kinh tế thị trường nói riêng, người ta không thể chối bỏ lạm phát nhưng nếu nhận thức đúng bản chất kinh tế của nó thì vẫn có thể chế ngự và kiểm soát được lạm phát. Mặt khác, nguyên nhân của lạm phát là không hoàn toàn do chiếc máy bơm tiền của NHTƯ tạo ra mặc dù suy cho cùng thì bản chất của lạm phát vẫn là hiện tượng kinh tế nảy sinh trong mối quan hệ không tương thích một cách phổ biến giữa cung và cầu hàng hóa trong cơ chế thị trường mà ở đây, "cung" là hàng và "cầu" là tiền. Cần phải bình tĩnh nhận định và chủ động chế ngự các khả năng bùng nổ những nhân tố tiềm ẩn của lạm phát. CÁCH ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT 1.
Cách đo lường lạm phát trên thế giới Ở Mỹ, FED chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân làm cơ sở cho các quyết định của mình. Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời. Với đa số các nước khác, NHTƯ thường sử dụng CPI đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu của chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như Mỹ. Đáng lưu ý hơn cả là FED và một số NHTƯ của Úc, New Zealand, Nhật đã loại bỏ một số loại hàng hóa có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng, lãi suất mua nhà) ra khỏi rổ hàng hóa tính chỉ số lạm phát cơ bản.
Các ngân hàng này cho rằng những thành phần nói trên dù có biên độ dao động lớn nhưng về lâu dài không làm ảnh 123doc -7- hưởng đến xu hướng chung của lạm phát, nên không ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát. Hơn nữa, sự biến động của các nhóm hàng này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnh hưởng của NHTƯ nên họ cũng không thể can thiệp. Ảnh hưởng của việc loại bỏ các yếu tố có độ biến thiên lớn ra khỏi rổ hàng hóa tính CPI rất quan trọng cho Việt Nam. Hiện tại, nhóm hàng hóa lương thực thực phẩm đã chiếm khoảng 42,85% và giá cả của mặt hàng lương thực thực phẩm của Việt nam có độ biến thiên cao hơn so với nhiều nước.
Cách đo lường lạm phát của Việt Nam Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bán lẻ của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế. Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc.
Ở Việt Nam, lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát, là suất tăng của mức giá tổng quát theo thời gian. Thước đo phản ánh mức giá tổng quát phổ biến nhất là chỉ số giá tiêu dùng (viết tắt: CPI). CPI là một tỷ số phản ánh của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong năm gốc. Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng.
Trên cơ sở xác định CPI bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước được tính theo công thức: Tỷ lệ lạm phát= (Mức giá hiện tại – Mức giá năm trước) x 100% Mức giá năm trước N 123doc -8- Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc.