CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái luận về vai trò nhà nước trong hoạt động xuất khẩu 10 z 1. Khái niệm, tính tất yếu và những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm: Trong từ điển Anh - Việt từ "vai trò" (role) có nghĩa là chức năng hoặc sự quan trọng của ai, cái gì [156, tr.1500]; trong từ điển Tiếng Việt, "vai trò" có nghĩa là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó [112, tr.
Như vậy, có thể hiểu vai trò của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu là: (1) Chức năng hoặc sự quan trọng của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu. (2) Tác dụng của nhà nước hay chức năng của nhà nước trong sự hoạt động, sự phát triển của xuất khẩu. * Trong từ điển Hán Việt "chức năng" (function) là gốc Hán có hai thành tố "chức" và "năng". Thành tố "chức" đồng nghĩa với thành tố "chức" trong các từ "chức phận", "chức vụ", "chức trách"; thành tố "năng" đồng nghĩa với thành tố "năng" trong các từ "khả năng", "năng lực", "tính năng", "bản năng" [20, tr.77]; chức năng được hiểu theo hai nghĩa: (1) Hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó của cơ thể (trong lĩnh vực y tế, hoặc sinh học) (2) Tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, cái gì đó [112, tr.
Từ đó có thể hiểu, vai trò nhà nước trong hoạt động xuất khẩu là "tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu”. Ý nghĩa của từ "vai trò" và chức năng có phần "giao" trong chừng mực nhất định "vai trò" có thể hiểu gần nghĩa "chức năng". Nhưng xét về tổng thể, 11 z "vai trò" không đồng nghĩa "chức năng"; chúng không lấn át nhau, không thể thay thế đầy đủ cho nhau; có thể tiếp cận "vai trò" từ "chức năng" và ngược lại. Như vậy, có thể hiểu một cách tương đối, chức năng của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu là những hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu mà thông qua những hoạt động này thể hiện vai trò (sự quan trọng, tác dụng) của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu.
Việc nhận diện vai trò của nhà nước về xuất khẩu chính là việc xác định "tính hợp lý" giữa hai nhân tố "thị trường" và "nhà nước" trong lĩnh vực xuất khẩu. Tính tất yếu: Không ít người thừa nhận vai trò kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế hội nhập sâu, rộng nền kinh tế thế giới đang tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư, có người lại cho rằng nhà nước không cần phải can thiệp vào hoạt động xuất khẩu. Theo tác giả luận án, quan điểm trên không hoàn toàn đúng bởi vì trong thực tiễn nền kinh tế toàn cầu ngày nay, dù nước có nền kinh tế phát triển hay không phát triển, nhà nước ở các nền kinh tế đó đều thực hiện vai trò của mình trong hoạt động xuất khẩu.
Nhưng vai trò quản lý nhà nước ở các nước có trình độ phát triển khác nhau là không giống nhau. Độ “đậm, nhạt” trong quản lý điều tiết hoạt động xuất khẩu ở ngay một nước còn tùy thuộc vào từng thời điểm khác nhau do sự biến động thăng trầm của nền kinh tế quốc gia và quốc tế. Thông thường ở nước kinh tế phát triển, vai trò quản lý nhà nước về xuất khẩu có giảm nhẹ chút ít. Bởi vì khi đó doanh nghiệp xuất khẩu đủ sức cạnh tranh quốc tế thể hiện ở các mặt sau: Kim ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng sản phẩm của doanh nghiệp đạt mức độ nhất định để doanh nghiệp tồn tại và doanh nghiệp trở thành “mắt xích” trong chuỗi cung ứng tích hợp toàn cầu.
12 z Doanh nghiệp chiếm lĩnh được tỷ trọng thị trường sản phẩm tương đối lớn, cho phép doanh nghiệp có ảnh hưởng trên thị trường quốc tế. Mức độ hấp dẫn của sản phẩm – mẫu mã - kiểu cách đạt được thị hiếu người tiêu dùng kể cả trên những thị trường “khó tính”. Sự vượt trội về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh: Sản phẩm đạt được yêu cầu chất lượng quốc tế, có tính độc đáo, thể hiện sự thành công trong chiến lược cạnh tranh. Thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp được xây dựng, phát triển, doanh nghiệp hoàn toàn có sức mạnh kiểm soát, bảo vệ thương hiệu của mình.
Trình độ, kinh nghiệm kinh doanh của thương nhân, trình độ cán bộ quản lý doanh nghiệp đạt yêu cầu quốc tế. Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp đủ lớn cho phép ứng dụng chuyển giao công nghệ sản xuất mới để đổi mới kỹ thuật, đổi mới sản phẩm, mở rộng và phát triển thị trường. Mặc dù giảm nhẹ, song nhà nước vẫn tiếp tục có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế trong đó có xuất khẩu. Đó là duy trì môi trường vĩ mô ổn định, cung ứng hàng hóa dịch vụ công, bảo vệ doanh nghiệp trong tranh chấp quốc tế.
Hơn thế nữa, nhà nước còn phải không ngừng tự hoàn thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động. Ngân hàng Thế giới đã đánh giá: “Một nhà nước có hiệu lực là nhân tố thiết yếu cho việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cũng như các quy định và thể chế cho phép các thị trường phát triển mạnh mẽ và con 13 z người có đời sống khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn. Nếu không có nó, sự phát triển bền vững cả về mặt kinh tế và xã hội là không thể có được”1 Ở các nước đang phát triển mới thực hiện chiến lược công nghiệp hoá định hướng xuất khẩu như Việt nam, nhà nước có vai trò to lớn trong hoạt động xuất khẩu. Xét về tổng thể, khoảng 90% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp xuất khẩu cũng nằm trong tình hình này.
Khá nhiều doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp chỉ đăng ký số vốn điều lệ tối thiểu mang tính hình thức, chưa có quy mô vốn thực của họ. Doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước được chính phủ bảo lãnh, dẫn tới quy mô vốn chủ sở hữu nhà nước và vốn kinh doanh không phản ánh đúng thực trạng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt; đối mặt với hàng loạt rào cản phi thuế quan; đối mặt với chủng loại, cơ cấu mặt hàng tương tự nhau; đối mặt với tình hình hàng xuất khẩu chưa có thương hiệu quốc tế, một số mặt hàng có thương hiệu lại bị hãng nước ngoài vi phạm thương hiệu; doanh nghiệp phải đối mặt với hãng kinh doanh nước ngoài qui mô lớn trong khi qui mô tài chính, qui mô thị phần của mình nhỏ bé; tình hình kinh tế trong nước: Kết cấu hạ tầng phục vụ xúc tiến xuất khẩu và xuất khẩu còn thiếu và yếu; chất lượng, hiệu quả dịch vụ công cho xuất khẩu còn rất thấp; Trình độ, kinh nghiệm doanh nhân, trình độ cán bộ quản lý kinh doanh xuất khẩu còn yếu, chưa đạt chuẩn mực quốc tế. Để doanh nghiệp Việt Nam, và các nước đang phát triển nói chung phát triển “sánh vai” ngang tầm doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế, tất yếu nhà nước phải có sự hỗ trợ tích cực, có hiệu quả, phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế.
Theo tác giả luận án, vấn đề ở chỗ không phải là nhà nước nên hay không nên can 1 World Bank, 2002, World Development Report 14 z thiệp, mà là mức độ, liều lượng can thiệp, cách thức hỗ trợ xuất khẩu như thế nào! Trong các giai đoạn phát triển của nền kinh tế: quốc gia mới bắt đầu chiến lược công nghiệp hoá định hướng xuất khẩu, quốc gia đang ở giai đoạn giữa của chiến lược hay quốc gia đã hoàn thành công nghiệp hoá, mức độ “liều lượng” can thiệp vào xuất khẩu của nhà nước là khác nhau, giữa các nước đang phát triển trong cùng thời kỳ mới bắt đầu chiến lược công nghiệp hoá định hướng xuất khẩu, do đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau mức độ và “liều lượng” can thiệp vào hoạt động xuất khẩu của nhà nước cũng khác nhau.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu . Nhân tố khách quan * Tình hình kinh tế – chính trị quốc tế: Thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế công nghệ và tri thức. Xu hướng nền kinh tế thế giới tiếp tục vận động mạnh mẽ theo toàn cầu hóa, tự do hóa về kinh tế với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ. Vấn đề này buộc các quốc gia, dân tộc phải nhận thức, nắm bắt để tự điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp.
Xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa kinh tế là điều kiện thúc đẩy chính phủ các nước tích cực tham gia các hiệp định song phương và đa phương. Hàng loạt các tổ chức, định chế kinh tế, tài chính quốc tế hình thành và phát triển: WB, IMF, ADB, WTO., hàng loạt các liên kết kinh tế khu vực: EU, NAFTA, AFTA., các công ty xuyên quốc gia phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Tình hình này đã và đang tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới đời sống chính trị, kinh tế của mỗi quốc gia dân tộc. Sự tác động được thể hiện ở chỗ, các chính phủ khi hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong đó có xuất khẩu đã xác định tình hình kinh tế 15 z chính trị quốc tế là một căn cứ quan trọng hàng đầu.
Mọi chiến lược phát triển quốc gia thoát ly với tình hình và bối cảnh quốc tế đều trở nên viển vông, mất tính khả thi. Tình hình chính trị, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hình thành trật tự thế giới đa cực đa trung tâm. * Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước: Trước hết, vai trò kinh tế của nhà nước nói chung và trong lĩnh vực xuất khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của thể chế chính trị, hành chính trong nước. Ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết (điều kiện cần số 1) đảm bảo vai trò của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu được thực hiện đầy đủ.
Hai là, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia tương ứng với một mô hình kinh tế nhất định, sẽ xác định được chức năng kinh tế (trong đó có hoạt động xuất khẩu) của nhà nước, từ đó vai trò của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu được thể hiện.