Chương 1: Lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế biển. Chương 2: Thực trạng tín dụng đối với việc phát triển kinh tế biển tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bình Thuận. Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với phát triển kinh tế biển tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bình Thuận. Footer Page 16 of 107.
Header Page 17 of 107. 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ BIỂN 1. Khái niệm về kinh tế biển Khái niệm cơ bản thì kinh tế biển là khái niệm mang tính thực tiễn, có thể chia làm hai phần chủ yếu: Một là: Toàn bộ những hoạt động kinh tế diễn ra trên biển: Kinh tế hàng hải (vận tải biển, khai thác cảng biển và dịch vụ liên quan); Hải sản (đánh bắt, nuôi trồng, khai thác cảng cá); Khai thác dầu khí trên biển; Du lịch biển; Nghề muối biển; Dịch vụ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển; Kinh tế hải đảo.
Hai là: Những hoạt động trực tiếp liên quan đến khai thác, có thể không diễn ra ngay trên biển, nhưng dựa vào yếu tố biển và diễn ra từ đất liền: Đóng và sửa chữa tàu biển (có nước xếp vào kinh tế hàng hải); Công nghiệp chế biến dầu khí; Công nghiệp chế biến hải sản; Cung cấp dịch vụ biển (khí tượng thủy văn, logistic, và một số lĩnh vực khác….); Thông tin liên lạc biển (đài phát tín ven biển, hệ thống định vị); Nghiên cứu khoa học – công nghệ biển; Điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển; Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biể; Bảo vệ môi trường, sinh thái biển. Kinh tế biển quan niệm theo nghĩa hẹp gồm: Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: Kinh tế hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và Kinh tế đảo. Kinh tế biển theo nghĩa hẹp, là kinh tế biển với các ngành chủ yếu bao gồm: Thủy sản (nuôi trồng, khai thác, chế biến), cảng biển và dịch vụ hàng hải, khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu biển, du lịch sinh thái (các bãi tắm, các vùng đất ngập nước ven bờ và hải đảo) Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107.
8 Kinh tế biển được hiểu theo nghĩa rộng, đầy đủ là: kinh tế biển với những hoạt động kinh tế diễn ra ở vùng ven bờ biển, trên các hải đảo, ở ngoài biển và thềm lục địa – bao gồm các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tạo thành một tổng thể phát triển đồng bộ của một khu vực kinh tế – xã hội vùng biển. Với cách tiếp cận theo nghĩa rộng, đầy đủ thì nội dung phát triển kinh tế biển mang tính chất toàn diện, cơ cấu phức hợp đa ngành, bao trùm các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, xây dựng, thông tin liên lạc, dịch vụ, du lịch, thương mại…. Như vậy, theo các quan điểm về kinh tế biển kinh có thể hiểu khái quát kinh tế biển là các hoạt động tạo ra lợi nhuận trên biển hoặc trực tiếp liên quan tới biển. Đặc điểm kinh tế biển Kinh tế biển có những đặc điểm chủ yếu sau đây: * Nhóm ngành nghề truyền thống.
Đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản. Kinh tế hàng hải: Bao gồm vận tải biển, cảng biển, dịch vụ hàng hải và hỗ trợ. Công nghiệp tàu biển: Bao gồm đóng tàu và sửa chữa tàu biển. Nghề nông ven biển.
* Nhóm ngành nghề mới phát triển. Công nghiệp dầu khí: Bao gồm: tìm kiếm, thăm dò dầu khí; khai thác dầu khí; xây dựng công nghiệp lọc hóa dầu và sử dụng khí; các hoạt động kinh doanh dịch vụ dầu khí (dịch vụ căn cứ, dịch vụ tàu thuyền, dịch vụ sửa chữa thiết bị dầu khí, dịch vụ dung dịch khoan, vật tư hóa phẩm cho khoan, xây lắp các đường ống dẫn dầu khí…) Nuôi trồng thủy, hải đặc sản. Du lịch biển. * Nhóm ngành nghề mới tương lai.
Năng lượng thủy triều và sóng. Khai thác khoáng sản lòng biển sâu, nghiên cứu hóa chất trong nước biển, trong đó có dược liệu biển. Điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển. Footer Page 18 of 107.
Header Page 19 of 107. 9 Khoa học công nghệ biển. Biển còn tiềm lực rất lớn về hải sản mà con người chưa khai thác hết được. Diện tích rộng lớn mặt biển cùng với điều kiện môi trường thuận lợi và các kỹ thuật vi sinh ngày càng hiện đại là những nhân tố hết sức quan trọng để phát triển ngành nuôi trồng biển, đặc biệt là nuôi trồng thuỷ, hải sản.
Biển còn là kho tàng chứa đựng một lượng lớn tài nguyên khoáng sản có giá trị cao như: dầu mỏ, khí thiên nhiên, than, sắt, lưu huỳnh, silic, cát, vàng, bạch kim, kim cương, uranium… 1. Vai trò của kinh tế biển Kinh tế biển có những vai trò đặc biệt quan trọng, bao gồm: Cung cấp nguyên liệu, thực phẩm cho xã hội, các ngành công nghiệp và xuất nhập khẩu: Biển là nơi cung cấp nguyên liệu phong phú, đa dạng cho công nghiệp chế biến, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Kinh tế biển góp phần thúc đẩy, tác động mạnh mẽ các lĩnh vực kinh tế khác như thủy sản, công nghiệp, dầu khí, điện lực, du lịch. Nhu cầu thực phẩm là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con người.
Kinh tế biển góp phần cung cấp nhu cầu thực phẩm đa dạng của xã hội đồng thời cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp chế biến như: Chế biến thực phẩm, chế biến thủy sản… Quy mô, tốc độ tăng trưởng của các nguồn nguyên liệu là nhân tố quan trọng quyết định quy mô, tốc độ tăng trưởng của các ngành này. Kinh tế biển giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và trở thành động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp vì biển là cửa ngõ giao lưu với thế giới, tạo điều kiện cho công tác xuất, nhập khẩu hàng hóa thuận lợi với chi phí thấp. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như hiện nay thì biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lực cạnh tranh của quốc gia và của ngành công nghiệp. Cung cấp một phần vốn để công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước: Công nghiệp hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
Để công nghiệp hóa thành công phải giải quyết rất nhiều vấn đề và đặc biệt là vốn cho quá trình công nghiệp hóa, nhất là các quốc gia nông nghiệp. Thông qua Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107. 10 việc xuất khẩu các sản phẩm từ kinh tế biển có thể góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Phát triển kinh tế biển góp phần phát triển thị trường của các ngành công nghiệp và dịch vụ: Với những nước lạc hậu, khu vực nông thôn, vùng ven biển và hải đảo tập trung phần lớn lao động và dân cư. Do đó, đây là thị trường quan trọng của công nghiệp và dịch vụ. Kinh tế biển càng phát triển thì nhu cầu về hàng hóa tư liệu sản xuất như: Thiết bị tàu cá, điện năng, nhiên liệu, thức ăn nuôi trồng thủy sản, thuốc thú y… càng tăng. Đồng thời các nhu cầu về dịch vụ cho kinh tế biển như: Vốn, thông tin, giao thông vận tải, thương mại… cũng ngày càng tăng.
Mặt khác, sự phát triển của kinh tế biển góp phần phát triển nền kinh tế, làm cho mức sống, mức thu nhập của dân cư tăng lên và nhu cầu của họ về các loại sản phẩm công nghiệp phục vụ tiêu dùng và nhu cầu về dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, du lịch, thể thao…cũng ngày càng tăng. Nhu cầu về các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của khu vực kinh tế biển góp phần đáng kể mở rộng thị trường của công nghiệp và dịch vụ. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ. Phát triển kinh tế biển là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội: Vùng ven biển và hải đảo là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của đất nước.
Phát triển kinh tế biển, một mặt bảo đảm nhu cầu thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp nhất là công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, là thị trường của công nghiệp và dịch vụ… Do đó, phát triển kinh tế biển là cơ sở ổn định, phát triển nền kinh tế quốc dân. Mặt khác phát triển kinh tế biển trực tiếp phát triển nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và từ đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, giảm tệ nạn xã hội. Thêm vào đó, đánh bắt hải sản là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta, là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam, đó là: khai thác tiềm năng nguồn lợi hải sản tạo sản phẩm cung cấp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tạo công ăn việc làm, thu nhập, cải thiện đời sống ngư dân các tỉnh ven biển; đảm bảo sự hiện diện, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển. Do đó, phát triển kinh tế biển là cơ sở ổn định chính trị, xã hội.
Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Trần Huy Hoàng, 2010).
Trong đó, cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong một thời hạn nhất định. Việc cấp tín dụng có thể được NHTM thực hiện thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Phân biệt về các loại hình cấp tín dụng được thể hiện tại bảng 1.1 như sau: Bảng 1.1: Các loại hình cấp tín dụng.