phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm có 3 chương. Một số vấn đề lý luận về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên ở nước ta hiện nay. Thực trạng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên nước ta (qua khảo sát thực tiễn ở một số trường đại học và cao đẳng tại khu vực Hà Nội) và một số kinh nghiệm. Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƢ TƢỞNG CHO SINH VIÊN NƢỚC TA HIỆN NAY 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về công tác giáo dục chính trị, tƣ tƣởng cho sinh viên trong các trƣờng đại học, cao đẳng 10 z Trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng bồi dưỡng và phát triển đội ngũ trí thức. Vườn ươm đội ngũ trí thức cách mạng chính là các trường đại học, cao đẳng. Ngay trong điều kiện biến động hết sức phức tạp của tình hình thế giới hiện nay cũng như dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập, mở cửa, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn đề cập tới công tác bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nói chung, cho tầng lớp trí thức nói riêng.
Điều đó được thể hiện trong các văn kiện, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Ngày 30 tháng 5 năm 1998, Bộ Chính trị (Khoá VIII) đã ra Chỉ thị 34 - CT/TW về "Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong trường học" (gọi tắt là Chỉ thị 34) [11]. Đây là một Chỉ thị hết sức quan trọng nhằm xây dựng tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng trong trường học, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ giáo viên, học sinh, sinh viên; Nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường học. Sau khi có Chỉ thị 34 của Bộ Chính trị, ngày 18/6/1998, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Chỉ thị số 39/1998/CT - BGD&ĐT về việc kiện toàn tổ chức lại bộ máy làm công tác chính trị, tư tưởng trong các trường đại học và cao đẳng.
Trên cơ sở đó, hàng trăm trường đại học, cao đẳng bắt đầu tái lập Phòng Chính trị và Công tác sinh viên. Chỉ thị 34 đã tạo cơ sở pháp lý thành lập bộ phận chuyên trách công tác sinh viên, mà một trong các chức năng của nó là tổ chức, quản lý và giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên. Để tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Nghị quyết liên tịch số 32/1998/NQ - BGD & ĐT - TWĐTN về việc "Tăng cường công tác giáo dục thanh thiếu nhi và xây dựng Đoàn, Hội, Đội giai đoạn 1998 - 2002" và sau đó là Nghị quyết liên tịch số 10/2003/NQ - BGD & ĐT - TWĐTN về "Tăng cường công 11 z tác học sinh, sinh viên và xây dựng Đoàn, Hội, Đội trong trường học giai đoạn 2003 -2007". Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức là nhiệm vụ then chốt.
Trong tình hình hiện nay, phải rất chú trọng giáo dục, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng của cán bộ - đảng viên" [14, tr. Sau chủ trương này, việc giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có đội ngũ trí thức và học sinh, sinh viên được chú ý hơn. Tiếp theo, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tại mục 5 "Phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc", Đảng ta chỉ rõ: "Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên,. Như vậy, có thể nói, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên được khẳng định là một nhiệm vụ tiên quyết trong trường đại học, cao đẳng.
Trong kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về "Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII", Đảng ta nhấn mạnh vào các nhiệm vụ: "Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, đạo đức, lối sống cho người học". Một số khái niệm có liên quan 1. Tư tưởng và hệ tư tưởng Theo "Từ điển Tiếng Việt" [26] của NXB Khoa học Xã hội, tư tưởng là sự nhìn nhận, là quan điểm, là sự phản ánh thế giới tự nhiên, xã hội của con người một cách tích cực, tự giác. Theo "Đại từ điển Tiếng Việt" [27], tư tưởng có hai nghĩa: Một là chỉ sự suy nghĩ của con người; hai là chỉ quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên, xã hội.
Như vậy, có thể hiểu một cách thống nhất như sau: Tư tưởng là sự nhìn nhận, là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội. Tư tưởng thuộc phạm trù ý thức, nó tồn tại như một thực tế khách quan gắn liền với hoạt động của con người. Tư tưởng là sản phẩm chủ quan của con người. Nhưng tư tưởng của mỗi người lại phụ thuộc vào đối tượng phản ánh và trình độ nhận thức của bản thân người đó.
Sự vận động và phát triển của thực tại khách quan tác động vào tư tưởng con nguời làm thay đổi nhận thức, tư tưởng của họ. Tư tưởng là bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, chịu sự quyết định của tồn tại xã hội. Tính chất, hiệu quả tác động của tư tưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Chế độ chính trị, mức độ phù hợp với thực tiễn, khả năng truyền bá xâm nhập vào quần chúng. Sự tác động của tư tưởng diễn ra theo các chiều hướng khác nhau: Có thể thúc đẩy xã hội phát triển nếu như tư tưởng đó là tiến bộ, cách mạng; có thể kìm hãm sự phát triển của xã hội nếu như đó là tư tưởng lạc hậu, lỗi thời, phản cách mạng.
Tư tưởng tồn tại trong lịch sử kế thừa những quan điểm tư tưởng trước đó. Sự kế thừa mang tính chọn lọc, phê phán, sáng tạo. Các tư tưởng cùng nhìn nhận thế giới theo một hướng được sắp xếp một cách có hệ thống, lô gic được gọi là hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng là hệ thống ý thức của một người hay một giai cấp do lợi ích của giai cấp chi phối.
Nó có giá trị chỉ đạo tư duy, hành động của con người vì lợi ích của giai cấp, chỉ đạo hoạt động cải tạo thực tiễn của con người. Hệ tư tưởng tồn tại, phát triển cùng 13 z lịch sử, có sự kế thừa, mang tính chọn lọc, phê phán, phát triển, sáng tạo. Hệ tư tưởng được hệ thống hoá thành lí luận, có tính xã hội và tính chiến đấu cao. Hệ tư tưởng là những quan điểm, tư tưởng được con người tư duy một cách tích cực, tự giác, được hệ thống hoá thành lí luận, thành học thuyết chính trị.
Nó phản ánh tồn tại xã hội và đại diện cho một giai cấp nhất định. Hệ tư tưởng mang tính giai cấp. Lênin đã từng khẳng định: Hoặc là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, hoặc là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản chứ không có hệ tư tưởng trung gian thứ 3. Chính trị Theo "Từ điển Tiếng Việt" [26] của NXB Khoa học Xã hội, chính trị chỉ "Quan hệ của một giai cấp này đối với một giai cấp khác trong cuộc đấu tranh nhằm giành địa vị thống trị và chính quyền trong nước".
Theo "Đại từ điển Tiếng Việt" [27], nghĩa thứ nhất, xét ở phạm vi giai cấp, quốc gia "Chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp nhằm giành điều kiện duy trì quyền điều hành nhà nước". Cách hiểu thứ hai, chính trị được hiểu nghiêng về mặt nhận thức, ý thức giai cấp ở người hoặc một bộ phận người, "Chính trị là những hiểu biết về mục đích, đường lối đấu tranh của các chính đảng cũng như đông đảo quần chúng (Ví dụ như công tác chính trị, giáo dục ý thức chính trị)". Cách hiểu thứ hai cũng gần đồng nhất với cách hiểu trong "Từ điển Chính trị": Chính trị phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp, do địa vị kinh tế của những giai cấp đó quyết định. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế [25, tr.
Mỗi cá nhân đều đứng trong một giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định. Mỗi cá nhân cũng có ý thức chính trị, có địa vị chính trị nhất định trong xã hội. Ở phạm trù cá nhân, chính trị có thể hiểu là ý thức, là nhận thức của mỗi cá nhân đối với địa vị kinh tế của giai cấp mình, hiểu về mục đích, đường lối đấu tranh của giai cấp mình. 14 z Từ những cách hiểu trên trong từ điển, có thể hiểu chính trị, tư tưởng là quan điểm lý luận, là chính kiến, là thế giới quan của mỗi người đối với thế giới, đối với chế độ xã hội, đối với sự giác ngộ về lợi ích giai cấp và địa vị của giai cấp đó trong xã hội.
Nó được hình thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt động của con người. Nó thể hiện lý tưởng, mục tiêu, lẽ sống của mỗi người. Giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay Đối với sinh viên nước ta hiện nay, chính trị, tư tưởng được hiểu là những nhận thức, hiểu biết về thế giới, về giai cấp, về dân tộc dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Ngoài nhận thức, sinh viên cần có quan điểm thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa.