CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌ NH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. Các công trin ̀ h trong nước Nâng cao chất lượng tăng trưởng công nghiệp cũng như của toàn nền kinh tế là mục tiêu của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đặc biệt khi Việt Nam đang từng bước xây dựng nền tảng của một nước công nghiệp hóa. Trong nhiều năm qua, nhịp tăng trưởng nhanh của công nghiệp Việt Nam luôn được duy trì, nhưng vấn đề chất lượng tăng trưởng của ngành đang là được đánh giá là chưa cao trong giai đoạn hiện nay. Theo Ngô Doãn Vịnh (2006), Hướng tới sự phát triển của đất nước-Một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng [19], nâng cao chất lượng tăng trưởng được quan niệm là nâng cao tính chất bền vững và hiệu quả kinh tế-xã hội, môi trường của quá trình thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng.
Quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn liền với việc cải thiện các tiêu chí phản ánh chất lượng tăng trưởng. Biểu hiện cụ thể của quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng: Một là, quá trình sử dụng ngày càng hợp lý các yếu tố nguồn lực để tạo sản phẩm hàng hóa, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu đời sống kinh tế và xã hội. Tăng trưởng sẽ trở nên có hiệu quả cao hơn khi tỷ trọng đóng góp vào quá trình này là những yếu tố nguồn lực có lợi thế nhất của đất nước và việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Tính hiệu quả của tăng trưởng sẽ trở nên bền vững hơn khi có sự chuyển đổi hợp lý, từ việc sử dụng chủ yếu các yếu tố nguồn lực vật chất, thể hiện tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, quyết định bởi cơ chế sử dụng các yếu tố phi vật chất là công nghệ và vốn nhân lực.
Hai là, Nguyễn Thành Độ (2005), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực, [41] với khả năng nguồn lực giới hạn, các chỉ tiêu nằm trong tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện. Trong số các tiêu chí đưa ra ở trên, đặc biệt nhấn mạnh các tiêu chí phản ánh tác động lan tỏa 10 của tăng trưởng kinh tế đến các đối tượng chịu ảnh hưởng, kể cả kinh tế, xã hội và môi trường. Đinh Văn Ân (2008), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội tốc độ nhanh, bền vững, chất lượng cao ở Việt Nam [2], việc nâng cao dần các tiêu chí về kinh tế, xã hội vừa là kết quả của tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời nó chính là môi trường hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn. Nguyễn Thị Kim Dung và các cộng sự (2006), Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam [18], các tiêu chí để đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp có thể là phân thành ba nhóm: (1) Các tiêu chí đánh giá hiệu quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng; (2) Các tiêu chí đánh giá cấu trúc của tăng trưởng; và (3) Các tiêu chí đánh giá tác động lan toả của tăng trưởng tới nền kinh tế.
Phù hợp với ba nội dung trên, có ba nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế như sau: Thứ nhất, các tiêu chí liên quan đến hiệu quả của việc đạt được chỉ tiêu tăng trưởng; Hiệu quả sản xuất của một nền kinh tế được thể hiện dưới góc độ: năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tỷ lệ chi phí trung gian trong sản xuất và hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình sản xuất. - Năng suất lao động: Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, hoặc cho ngành, có thể lấy GDP theo giá có định chia cho số lao động đang làm việc trong nền kinh tế, hoặc cho ngành trong năm. Nếu GDP tạo ra trên một lao động càng cao, năng xuất lao động càng lớn. Dưới góc độ ngành hay doanh nghiệp, GDP có thể được thay thế bằng các chỉ số khác có sẵn như giá trị sản xuất hoặc chỉ số giá thành lao động trên một đồng giá trị sản phẩm.
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Có nhiều cách xác định hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Ở giác độ vĩ mô, người ta thường nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn 11 đầu tư thông qua Hệ số gia tăng vốn-sản lượng (ICOR), cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP, cần phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện. Vì vậy, ở một khía cạnh nào đó, hệ số này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế. Với nội dung đó, hệ số ICOR được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của cả nền kinh tế hoặc của ngành.
Theo các nhà kinh tế này, ở những nền kinh tế phát triển theo chiều rộng (tăng trưởng kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của các yếu tố đầu vào như vốn và lao động, đóng góp của yếu tố TFP cho tăng trưởng còn thấp) hệ số ICOR thấp, chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao. Tuy nhiên, theo quy luật lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế tăng trưởng thì hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là để duy trì một tốc độ tăng trưởng, cần một tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP cao hơn. ICOR được xác định qua hai phương pháp, (1) ICOR = I1/ Y1-Y0 trong đó I1 và Y1 là vốn đầu tư và GDP của năm nghiên cứu, Yo là GDP của năm trước đó (lưu ý rằng các chỉ tiêu này được tính cùng một loại giá); và (2) ICOR = I/Y chia cho gY, trong đó I/Y là tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP, gY là tốc độ tăng GDP. Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: để tăng thêm 1% GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP.
- Vị trí của công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu: “Chuỗi giá trị là quá trình biến một sản phẩm, dịch vụ phát triển từ ý tưởng qua nghiên cứu thử nghiệm đến sản xuất rồi đến tay người tiêu dùng và cuối cùng là dịch bán hàng và sau bán hàng (Hình 1). Mỗi một công đoạn trên tùy từng tính chất của mỗi hàng hóa và dịch vụ mà có một hệ thống các hoạt động bao gồm hàng loạt các hãng khác nhau đảm trách, tạo thành một mạng lưới sản xuất, lắp ráp, dịch vụ nằm rải rác trên khắp thế giới tạo ra chuỗi giá trị toàn cầu. Chuỗi giá trị Nguồn: [24] Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn (2012), Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may [42], vị trí của công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu là nhân tố quan trọng về mặt cơ cấu, ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng của khối ngành. Chuỗi giá trị là quá trình biến một sản phẩm, dịch vụ phát triển từ ý tưởng qua nghiên cứu thử nghiệm đến sản xuất rồi đến tay người tiêu dùng và cuối cùng là dịch bán hàng và sau bán hàng.
Mỗi một công đoạn trên tùy từng tính chất của mỗi hàng hóa và dịch vụ mà có một hệ thống các hoạt động bao gồm hàng loạt các hãng khác nhau đảm trách, tạo thành một mạng lưới sản xuất, lắp ráp, dịch vụ nằm rải rác trên khắp thế giới tạo ra chuỗi giá trị toàn cầu. Chuỗi giá trị toàn cầu có hai dạng liên kết kinh tế quốc tế. Đó là hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối (global value chain driven by producer) và hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu do thị trường hay người mua chi phối (global value chain driven by marketer). Trong chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối, các doanh nghiệp sản xuất lớn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống sản xuất (bao gồm cả các liên kết ngược chiều và xuôi chiều).
Đây chính là các ngành thâm dụng vốn và công nghệ cao như ô tô, máy bay, máy vi tính, chất bán dẫn và chế tạo máy. Vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị này thuộc về các công ty đa quốc gia và lợi nhuận sẽ phụ thuộc chủ yếu vào quy mô, số lượng và sự vượt trội về công nghệ. 13 Chuỗi giá trị toàn cầu do thị trường hoặc người mua chi phối bao gồm các nhà bán lẻ lớn, các nhà marketing, các nhà sản xuất có thương hiệu mạnh có vai trò then chốt trong việc hình thành mạng lưới sản xuất tập trung ở các nước xuất khẩu khác nhau trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mô hình này là đặc trưng chung của các ngành thâm dụng lao động, sản xuất hàng tiêu dùng như dệt may, da giầy, đồ chơi và điện dân dụng.
Trong hệ thống này các nhà thầu của thế giới thứ ba chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng nước ngoài. Các nhà bán lẻ lớn hay các nhà bán buôn đặt hàng cung cấp các sản phẩm với các đặc tính rõ ràng. Chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối trái ngược với chuỗi giá trị toàn cầu do nhà sản xuất chi phối là do chuỗi giá trị này được đặc trưng bởi cạnh tranh mạnh và hệ thống các nhà máy sản xuất tập trung toàn cầu với rào cản nhập ngành thấp. Các công ty có thương hiệu nổi tiếng kiểm soát hệ thống sản xuất trên phạm vi toàn cầu, hơn nữa họ còn tác động đến lợi nhuận là bao nhiêu trong mỗi giai đoạn trong chuỗi giá trị.
Trong chuỗi giá trị toàn cầu do người mua chi phối lợi nhuận lại phụ thuộc chủ yếu vào vào giá trị gia tăng cao trong R&D, thiết kế, marketing và chiến lược kết nối các nhà sản xuất trên phạm vi toàn cầu và bán các sản phẩm ở các thị trường tiêu dùng chính; - Tỷ lệ chi phí trung gian trong sản xuất công nghiệp: Giá trị gia tăng chỉ bao gồm phần giá trị mới tăng thêm (mới sáng tạo ra) trong nền kinh tế. Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí vật chất và chi phí dịch vụ đã chi ra cho quá trình sản xuất để tạo ra giá trị gia tăng đó. Chi phí trung gian không làm tăng thêm của cải cho xã hội mà chỉ là tiêu dùng của cải vật chất và dịch vụ của quá trình sản xuất.