CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI NHẰM NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI 1. Chính sách là gì 1. Khái niệm Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là được sử dụng rất nhiều trong các vấn đề liên quan đến kinh tế và chính trị.
Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” chính sách cần được hiểu ở những góc nhìn nhất định: xem xét nó một cách độc lập hay trong mối quan hệ với các phạm trù khác, chẳng hạn như chính trị hay pháp quyền. Nếu nhìn nhận chính sách như một hiện tượng tĩnh và tương đối độc lập thì chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách. Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì khái niệm chính sách cần được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây: Là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và các công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể KT – XH nhằm giải quyết vấn đề nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.
Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách. 7 Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách.
Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được thừa nhận, được ban hành bởi nhà nước theo một trình tự luật định. Vậy chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội – môi trường. Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy. Các loại chính sách Của Nhà nước gồm: Chính sách kinh tế, Chính sách đối ngoại, Chính sách quốc phòng, Chính sách KH & CN, Chính sách giáo dục, Chính sách dân tộc, Chính sách tôn giáo,…Ví dụ: Chính sách phát triển nông thôn là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm tạo cho nông thôn phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng), tác động tới giá đầu vào hay giá đầu ra trong nông thôn, tác động về việc thay đổi tổ chức, trong đó thị trường đầu vào và cả đầu ra được thực hiện, tác động vào chuyển giao công nghệ. 8 Của cơ quan, đơn vị, công ty gồm có: Chính sách phát triển, Chính sách nhân lực, Chính sách kinh doanh,… Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công – nhà nước.
Nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị là “Đảng đề ra đường lối, chính sách, Nhà nước thể hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật”. Việc xây dựng chính sách là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là người duy nhất có quyền đưa ra chính sách. Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật nhưng việc xây dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước cũng chính là Nhà nước xây dựng và ban hành chinh sách (Điều này được phản ánh rất rõ trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay, khi người của Đảng được giao nắm các trọng trách và vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước (trong thành phần của Quốc hội Khoá XII hiện nay số lượng đảng viên chiếm tới 93%; đối với Chính phủ thì 100% thành viên Chính phủ là đảng viên). Đường lối, chính sách của Đảng có thể được sao chép, được cụ thể hóa trong pháp luật nhưng nó cũng có thể được điều chỉnh, được hoàn thiện trong quá trình thể chế hóa để phù hợp với tư tưởng mới hay đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn xã hội.
Nhà nước xây dựng và ban hành pháp luật là thể chế hóa chính sách của Đảng thành pháp luật nhưng cũng là một bước xây dựng và hoàn thiện chính sách. Và vì vậy, chính sách và pháp luật là hai phạm trù rất gần gũi và có những điểm giao nhau, là cơ sở tồn tại của nhau trong một chế độ nhà nước pháp quyền. Nội dung của hệ thống chính sách Xây dựng chính sách là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước, nó có vai trò rất quan trong việc phát triển ngành, lĩnh vực mà chính sách hướng tới. Chính sách được xây dựng nhằm mục đích định hướng, điều chỉnh tất cả những ngành những lĩnh vực trong nền kinh tế cũng như xã hội.
9 Nhà nước là người đề ra chính sách và thực hiện chính sách, theo dõi và giám sát việc thực thi chính sách, phát hiện những điểm bất cập, những điểm không hợp lý để có sự điều chỉnh và sửa chữa, bổ sung kịp thời. Môi trường luôn vận động và thay đổi mà chính sách luôn nằm trong một môi trường nhất định do vậy đặt ra yêu cầu chính sách luôn cần phải có sự bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp quá trình vận động của môi trường. Chính sách được xây dựng luôn nhằm vào phục vụ một đối tượng cụ thể nào đó, ví dụ như: chính sách nông thôn thì luôn phục vụ mục đích vì sự phát triển của nông thôn. Chính sách được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Chính sách kinh tế 1. Khái niệm Chính sách kinh tế đề cập đến các hành động của chính phủ áp dụng vào lĩnh vực kinh tế. Chính sách kinh tế thường bị chi phối từ các chính đảng, nhóm lợi ích có quyền lực trong nước, các cơ quan quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới hay tổ chức thương mại thế giới. Chính sách kinh tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu phương thức công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng tác động lên hành vi của chủ thể và đối tượng nhằm thực hiện những nội dung quản lý kinh tế hướng đến những mục tiêu đã xác định.
Nói cách khác, chính sách kinh tế đó là những giải pháp mà nhà nước sử dụng để xử lý và giải quyết các nội dung kinh tế lớn trong quá trình hoạt động và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trong hoạt động quản lý kinh tế, chính sách kinh tế có những vai trò như sau : Một là định hướng cho hoạt động kinh tế xã hội của đất nước; Hai là tổ chức để xử lý, giải quyết các vấn đề kinh tế lớn mang tầm vĩ mô của kinh tế như: các chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính sách tài chính - tiền tệ; 10 Ba là hỗ trợ để phát triển các mục tiêu kinh tế đã được xác định. Như vậy, chính sách kinh tế có giá trị như là những quyết định trong dài hạn của nhà nước nhằm tổ chức quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu định hướng. Từ những cơ sở trên ta có thể nói chính sách kinh tế là những quyết định kinh tế ở tầm vĩ mô do nhà nước đưa ra nhằm thực hiện các chương trình, kế hoạch trong một thời gian dài theo một mục tiêu đã xác định.
Mục tiêu của kinh tế vĩ mô thường dựa trên các dấu hiệu chủ yếu như : ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội. Để đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau. Mỗi chính sách phải có những công cụ riêng biệt. Chính sách bao gồm nhiều lĩnh vực của kinh tế xã hội : tài chính - tiền tệ, giá cả, đầu tư, thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách khuyến khích đầu tư có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Khi đất nước chuyển sang thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế thì vấn đề mấu chốt, quyết định của mọi sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia là giải quyết các bài toán tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, suy đến cùng là giải quyết vấn đề đầu tư. Nội dung cơ bản của chính sách kinh tế Chính sách kinh tế bao gồm các loại chính sách như: Chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách điều tiết hoạt động kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách phát triển kinh tế. Chính sách kinh tế vĩ mô là các chính sách kinh tế nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô và đạt trạng thái toàn dụng lao động.
Hai chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng là chính sách tài chính và chính sách tiền tệ. Có thể có một số chính sách kinh tế khác cũng có tác động tới kinh tế vĩ mô, như chính sách thương mại (quota, thuế quan) song mục đích chính của 11 chúng không phải là ổn định kinh tế vĩ mô, nên không được coi là chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách kinh tế vĩ mô còn được gọi là chính sách quản lý tổng cầu vì nó tác động đến phía cầu của nền kinh tế nó bao gồm chính sách tài chính và chính sách tiền tệ. Chính sách tài chính là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công để tác động tới nền kinh tế.