CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vấn đề VS ATTP thủy sản xuất khẩu 1. Vấn đề VS ATTP thủy sản xuất khẩu Ngành thủy sản là Ngành đi tiên phong tại Việt Nam trong việc áp dụng chương trình quản lý chất lượng theo HACCP cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản, được áp dụng từ năm 1994. Bên cạnh đó, Ngành thủy sản cũng đã kết hợp áp dụng thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAqP) và triển khai thực hiện một số chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại trong thủy sản nuôi; chương trình kiểm soát chất lượng, VS ATTP thủy sản sau thu hoạch; chương trình kiểm soát vùng nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
Nhờ sự nỗ lực của toàn Ngành nên chất lượng về VS ATTP của sản phẩm thủy sản xuất khẩu ngày càng được nâng cao và đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu của các thị trường nhập khẩu. Mặc dù đã có những bước tiến vượt bậc về công tác kiểm soát chất lượng VS ATTP trong những năm gần đây, nhưng vấn đề về chất lượng VS ATTP thủy sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn là vấn đề khá nan giải. Số lượng các lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam bị các thị trường cảnh báo nhiễm hóa chất, kháng sinh và vi sinh vật còn khá lớn, điều này ảnh hưởng không chỉ về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng tới uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thống kê về số lô hàng thủy sản bị cảnh báo nhiễm kháng sinh, hóa chất và vi sinh vật từ năm 2003 đến năm 2006 được trình bày tại bảng 1-1.
Qua bảng 1-1, chúng ta dễ dàng nhận thấy tổng số lô hàng bị các thị trường cảnh báo trong những năm vừa qua chưa có tín hiệu giảm. 4 Bảng 1-1: Thống kê lô hàng thủy sản xuất khẩu bị thị trường cảnh báo nhiễm kháng sinh, hóa chất và vi sinh vật từ năm 2003 – 2006 [10] Thị Đối tượng Năm STT trường nhiễm 2003 2004 2005 2006 KS, HC 10 24 46 19 1 EU VSV 9 15 39 5 KS, HC 0 6 17 1 2 Mỹ VSV 41 25 29 71 KS, HC 1 15 54 7 3 Canada VSV 16 17 12 6 KS, HC 0 6 7 0 4 Hàn Quốc VSV 3 1 11 10 KS, HC - - - 70 5 Nhật Bản VSV - - - 4 KS, HC 11 51 124 97 6 Tổng VSV 69 58 91 96 (Số liệu thống kê tại Cục Quản lý CL NLTS ) Các mối nguy phổ biến được phát hiện có trong thủy sản của Việt Nam được cảnh báo tại các thị trường EU, Mỹ và Nhật Bản trong 10 tháng đầu năm 2008 được nêu chi tiết tại bảng 1-2. Bảng 1-2: Các vấn đề đối với thủy sản Việt Nam tại các cửa khẩu EU, Mỹ và Nhật Bản trong 10 tháng đầu năm 2008 [3, 37, 38] Vi phạm Số lượt vi phạm Các sản phẩm Bộ Nông nghiệp Mỹ Vi tạp chất 73 Cá cắt khúc Dư lượng thuốc thú y 21 Tôm, thịt cua Histamine 9 Cá kiếm và cá ngừ Salmonella 34 Các loại cá cắt khúc 5 Salmonella 12 Tôm sú vỏ Chloramphenicol 13 Thịt cua Hệ thống cảnh báo nhanh của Liên minh Châu Âu (EU) Cadimium 2 Mực nang, sò huyết Thủy ngân 4 Cá kiếm, cá nhám Histamine 2 Cá ngừ Salmonella 2 Nghêu, Surimi Vibrio cholerae 3 Tôm sú, cá tra fillet Độc tố Staphylococcus 1 Cá tra fillet Cơ quan Kiểm tra Thực phẩm Nhập khẩu Nhật Bản Chloramphenicol 23 Tôm đông lạnh Chloramphenicol 3 Mực đông lạnh Các chất chuyển hóa 15 Tôm đông lạnh của Nitrofuran Coliforms 12 Thủy sản chế biến ăn liền E. coli 4 Thủy sản chế biến ăn liền Qua bảng 1-2, chúng ta có thể thấy rõ là mỗi nước nhập khẩu nhận biết và phát hiện các mối nguy phổ biến tương tự nhau đối với các sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, cụ thể các mối nguy chủ yếu bị cảnh báo có trong thủy sản Việt Nam là Chloramphenicol, các thuốc thú y và dư lượng thuốc thú y, Histamine, vi khuẩn gây bệnh như Salmonella và Vibrio cholerea, các kim loại nặng.
Bối cảnh về VS ATTP trong thương mại quốc tế đối với sản phẩm tôm Từ trước tới nay tôm đã mang một hình ảnh không mấy khả quan về phương diện VS ATTP trên thương trường quốc tế. Tôm châu Á nói chung và tôm Việt Nam nói riêng phải chịu những phản ứng tiêu cực từ các nước nhập khẩu như Mỹ, nơi mà các nhà chức trách đã áp dụng hệ thống “danh sách phong toả” (blocklisting) đối với hàng nhập khẩu từ phần lớn các nước châu 6 Á kể từ năm 1979. Nó bao gồm cả hệ thống “kiểm tra và cho phép giải phóng lô hàng” đối với tôm châu Á với khối lượng lớn đã từng bị xem là hàng hóa không đủ chất lượng ở cửa khẩu. Hiện nay, các thanh tra của Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA) lưu giữ tất cả những lô hàng bị nghi ngờ và chỉ được lưu hành nếu các cấp độ của tác nhân gây bệnh tuân thủ các tiêu chí của chế độ lấy mẫu kiểm nghiệm.[31] Tương tự như thị trường Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) đã ra quyết định về quản lý nguy cơ năm 1997 để ngăn chặn tôm nhập khẩu từ Bangladesh, vì nhận thấy nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng trước mối nguy phẩy khuẩn tả Vibro cholerae.
Cũng phải lưu ý một vài nước, trong đó có Nhật Bản và Úc vẫn tiếp tục nhập khẩu tôm từ Bangladesh trong những năm 1997 và 1998 mà không thấy các dịch bệnh từ mối nguy này.[23] Một trong những vấn đề quan trọng về VS ATTP không liên quan đến vi sinh vật chính là sự có mặt của các loại kháng sinh cấm, trong đó có Chloramphenicol và và các chất chuyển hoá của Nitrofuran trong tôm nuôi từ các nước Thái Lan và Việt Nam. Vấn đề này bắt đầu rộ lên từ năm 2001 và các nhà quản lý thuộc Liên minh châu Âu cũng như Bắc Mỹ đã nhanh chóng phản ứng bằng cách áp dụng các điều luật không khoan nhượng đối với sự có mặt của các hoá chất kháng sinh này, trong đó nêu rõ khả năng các chất kháng sinh này có thể là tác nhân gây lên ung thư hoặc thiếu máu không tái tạo được. Sự xuất hiện của Cloramphenicol và các dẫn xuất của Nitrofuran đã làm dấy lên những câu hỏi lớn về tính hiệu quả của Nguyên tắc phòng ngừa trong hệ thống HACCP và khái niệm không khoan nhượng trong phòng vệ c ủa y tế công cộng. Tình hình xuất khẩu sản phẩm tôm đông lạnh 1.
Sản lượng tôm xuất khẩu và các thị trường nhập khẩu 7 Tôm đông lạnh xuất khẩu là 1 trong 2 sản phẩm đem lại nguồn thu chính cho thủy sản Việt Nam. Theo số liệu của Hải Quan, 10 tháng đầu năm 2008 xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 1.600 tấn, trị giá 3,828 tỷ USD. Trong đó tôm đông lạnh chiếm tỷ trọng cao nhất 35,4% với 158.527 tấn, trị giá 1,354 tỷ USD. Sản lượng và giá trị của các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam được thể hiện qua bảng 1-3 và biểu đồ 1.
Bảng 1-3: Tỷ trọng sản lượng và giá trị của các mặt hàng thủy sản xuất khẩu trong 10 tháng năm 2008 (nguồn: thống kê của VASEP) [13] Sản lượng Giá trị Tỷ trọng giá trị Sản phẩm xuất khẩu (tấn) (triệu USD) (%) Tôm đông lạnh 158.233 271,79 7,1 Thủy sản khác 271.770 962,21 25,1 Tổng sản phẩm thủy sản 1.828 100 Tỷ lệ giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủy sản của Việt Nam năm 2008 Tôm đông lạnh Cá tra, basa Mực, bạch tuộc Thủy s ản khác 25.1: Tỷ lệ giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủy sản của Việt Nam trong 10 tháng năm 2008 8 Các thị trường nhập khẩu chính và số liệu thống kê về sản lượng, giá trị của sản phẩm tôm đông lạnh xuất khẩu vào các thị trường này trong năm 2008 được mô tả tại bảng 1-4 và biểu đồ 1. Bảng 1-4: Sản lượng tôm đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 (Nguồn: số liệu thống kê của VASEP)[13] Sản lượng tôm đông lạnh xuất khẩu Nước xuất khẩu Sản lượng (tấn) Tỷ lệ (%) Nhật Bản 58.664 28,2 Tổng sản lượng xuất khẩu 191.553 100 Sản lượng tôm đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 Nhật Bản Mỹ EU Thị trường khác 17.2: Tỷ lệ sản lượng tôm đông lạnh Việt Nam xuất khẩu năm 2008 9 Qua số liệu tại bảng 1-4, chúng ta nhận thấy rõ 3 thị trường tiêu thụ một lượng lớn (chiếm 71,8% tổng sản lượng tôm xuất khẩu) sản phẩm tôm đông lạnh của Việt Nam là EU, Nhật Bản và Mỹ. Tình hình tiêu thụ tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam tại một số thị trường chính Theo công bố từ phía Hải Quan của các thị trường Nhật Bản, EU và Mỹ về sản lượng tôm đông lạnh nhập khẩu vào các thị trường này trong năm 2007 cho thấy Việt Nam cùng với Thái Lan, Ấn Độ và Trung Quốc là những nước xuất khẩu tôm chủ yếu vào các thị trường này. Tỷ lệ sản lượng tôm nhập khẩu từ Việt Nam so với tổng sản lượng tôm nhập khẩu tại các thị trường Nhật Bản, Mỹ và EU tương ứng là 20,4%, 7,3% và 9,2%.
Số liệu về sản lượng tôm nhập khẩu từ Việt Nam tại các thị trường Nhật Bản, Mỹ và EU trong năm 2007 được nêu tại bảng 1-5. Bảng 1-5: Sản lượng và tỷ lệ tiêu thụ tôm nhập khẩu từ Việt Nam tại Nhật Bản, Mỹ và EU năm 2007 [27] Tổng sản lượng Sản lượng tôm nhập khẩu từ VN Thị trường tôm nhập khẩu nhập khẩu Sản lượng (tấn) Tỷ lệ (%) (tấn) Nhật Bản 276.663 9,2 Cho tới thời điểm này, chúng tôi chưa tìm thấy có bất cứ tài liệu nào liên quan đến việc nghiên cứu về thói quen sử dụng (số người ăn, tần suất ăn/ 1 người trong 1 năm, khối lượng tôm trong 1 suất ăn) tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam tại các nước Nhật Bản, EU và Mỹ. Salmonella và vấn đề Salmonella trong tôm đông lạnh xuất khẩu 1. Giới thiệu sơ lược về Salmonella a) Định danh Về mặt lịch sử, Salmonella thường được phân loại theo địa danh, con người hoặc động vật hoặc tên bệnh.
Nó tạo nhiều kháng thể nên người ta dùng làm tiêu chuẩn phân loại chính xác (theo Kauffman-White). Hiện nay tồn tại hơn 2000 loại vi khuẩn, phần lớn các nhiễm độc thực phẩm gây nên từ 100 trong số đó. Salmonella choleraesuis được chia làm 7 nhóm nhỏ theo tính kháng nguyên của nó. Mới đây người ta đề nghị lấy tên là Salmonella euterica.
Nhóm thứ nhất (Salmonella choleraesuis, Sbusp cholerasuis) tập hợp hầu hết những loài có liên quan tới người và động vật có xương sống máu nóng (99,5% các chủng).