Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven biển Đông Bắc Bộ giữ vai trò trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam, với sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt hàng chục nghìn tấn mỗi năm. Riêng vùng cửa sông Bạch Đằng hàng năm tiếp nhận lượng dòng chảy lục địa mang theo khoảng 10.500 tấn COD, 4.400 tấn BOD5, 343 tấn photpho tổng số và gần 6 tấn kim loại nặng các loại. Trong bối cảnh công nghiệp hóa tăng nhanh, nguy cơ tồn dư các chất độc hại như Asen (As) và Thủy ngân (Hg) trong môi trường biển ngày càng hiện hữu. Động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ là nhóm sinh vật đáy ăn lọc mùn bã hữu cơ, ít di chuyển và có khả năng tích lũy sinh học cao, trở thành cầu nối truyền tải độc chất vào chuỗi thức ăn của con người.

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường của tác giả Đinh Thị Nga, thực hiện tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2017 dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Văn Diệu Anh và sự phối hợp của Viện Tài nguyên và Môi trường biển, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết về an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản. Mục tiêu nghiên cứu chính bao gồm: khảo sát và định lượng nồng độ As, Hg trong môi trường nước, trầm tích và mô thịt của 3 loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế gồm tu hài (Lutraria rhynchaena), ngán (Austriella corrugata) và ngao trắng (Meretrix lyrata); xác định hệ số tích tụ sinh học BAF, BSAF; từ đó xây dựng các khuyến cáo sử dụng thực phẩm an toàn cho cộng đồng. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi 3 vùng sinh thái ven bờ trọng điểm thuộc 2 tỉnh thành Hải Phòng và Quảng Ninh trong giai đoạn 2016 - 2017, mang lại cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng nhằm kiểm soát rủi ro độc chất và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về chu trình sinh - địa - hóa và độc học sinh thái biển của kim loại nặng. Độc tính của Asen và Thủy ngân phụ thuộc chặt chẽ vào dạng tồn tại hóa học. Trong môi trường biển, Asen vô cơ hóa trị 3 (AsIII) có độc tính cao gấp 50 lần so với Asen vô cơ hóa trị 5 (AsV), đồng thời độc hơn hàng trăm lần so với các hợp chất Asen hữu cơ như MMA và DMA. Đối với Thủy ngân, methyl thủy ngân là dạng hữu cơ nguy hiểm nhất, có ái lực cực mạnh với nhóm sulfhydryl của protein mô cơ và có thời gian bán thải kéo dài từ 70 đến 90 ngày trong cơ thể sinh vật thủy sinh.

Mô hình nghiên cứu sử dụng hệ số tích lũy sinh học từ nước BAF (Bioaccumulation Factor = Ct/Cw) và hệ số tích lũy sinh học từ trầm tích BSAF (Biota-Sediment Accumulation Factor = Ct/Cs). Đánh giá mức độ an toàn thực phẩm được xây dựng dựa trên mô hình lượng ăn vào hàng ngày chấp nhận được ADI (Acceptable Daily Intake) theo hướng dẫn của tổ chức ASEAN - Canada CPMS-II kết hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển nuôi trồng thủy sản QCVN 10-MT:2015/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập mẫu tại 3 khu vực đặc trưng: vịnh Lan Hạ - đảo Cát Bà (môi trường nước mặn xa bờ, thu mẫu tu hài); xã Hoàng Tân - thị xã Quảng Yên (môi trường rừng ngập mặn chịu ảnh hưởng sông Bạch Đằng, thu mẫu ngán); và xã Đồng Bài - huyện Cát Hải (bãi triều ven bờ cửa sông, thu mẫu ngao trắng). Quá trình khảo sát được tổ chức thành 2 đợt vào tháng 7/2016 (mùa mưa) và tháng 12/2016 (mùa khô).

Cỡ mẫu sinh vật được thu thập theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng sinh học, mỗi nhóm kích thước tập hợp từ 20 đến 30 cá thể để tạo mẫu gộp đại diện nhằm loại bỏ sai số sinh học cá thể. Tu hài được chia thành 5 nhóm kích thước với chiều dài từ 60 đến 85 mm (khối lượng trung bình 28,95 đến 67,87 g/con); ngán chia thành 5 nhóm kích thước từ 41 đến 65 mm (khối lượng trung bình 22,0 đến 85,3 g/con); ngao trắng chia thành 2 nhóm kích thước từ 25 đến 35 mm (khối lượng trung bình 13,37 đến 14,24 g/con). Quy trình lấy và bảo quản mẫu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn TCVN 5998:2005, TCVN 6663-3:2008 ở 4 độ C đối với nước biển; ISO 5667-19:2004 ở âm 20 độ C đối với trầm tích; và APHA 10200 đối với sinh vật. Mẫu mô mềm sinh vật được bóc tách giải phẫu, đồng nhất hóa và đông khô liên tục trong 48 giờ.

Phương pháp phân tích định lượng Asen tổng số được thực hiện bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử kỹ thuật hóa hơi hydrua (AAS-HVG), và Thủy ngân tổng số được phân tích bằng kỹ thuật hóa hơi lạnh (AAS-CVAAS). Lý do lựa chọn hệ thiết bị này là độ nhạy vượt trội, giới hạn phát hiện ở mức phần tỷ (ppb), độ lặp lại cao và loại trừ triệt để ảnh hưởng nền của ma trận muối biển phức tạp theo chuẩn quốc tế AOAC và USEPA.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát môi trường nước tại 3 vị trí cho thấy nồng độ Asen dao động từ 1,9 đến 3,7 µg/l, trong đó cao nhất tại Đồng Bài (3,7 µg/l), Hoàng Tân (3,6 µg/l) và thấp nhất tại Lan Hạ (1,9 µg/l). Nồng độ Thủy ngân trong nước dao động từ 0,19 đến 0,33 µg/l. Toàn bộ các giá trị này đều nằm trong ngưỡng an toàn của QCVN 10-MT:2015/BTNMT (giới hạn As là 20 µg/l, Hg là 1 µg/l).

Trong môi trường trầm tích, hàm lượng Asen dao động từ 0,0076 mg/kg (cát nuôi tu hài) đến 6,00 mg/kg (bùn bãi ngán Hoàng Tân), thấp hơn nhiều so với quy chuẩn QCVN 43:2012/BTNMT (41,6 mg/kg). Tuy nhiên, hàm lượng Thủy ngân trong trầm tích tại Hoàng Tân và Đồng Bài có dấu hiệu tích tụ cục bộ cao hơn so với nền cát sạch tại vịnh Lan Hạ.

Đối với mô sinh vật, mức độ tích lũy kim loại nặng có sự phân hóa sâu sắc giữa các loài:

  • Tu hài tại Cát Bà có hàm lượng As từ 0,10 đến 0,13 mg/kg và Hg từ 0,022 đến 0,033 mg/kg. Nhóm tu hài nhỏ nhất (60 - 65 mm) không phát hiện Thủy ngân.
  • Ngao trắng tại Đồng Bài có hàm lượng As dao động từ 0,19 đến 0,23 mg/kg, ổn định qua các nhóm kích cỡ và có xu hướng tăng nhẹ vào đợt tháng 12.
  • Ngán tại Hoàng Tân ghi nhận mức độ tích lũy độc chất cao nhất. Hàm lượng Asen trong ngán tăng vọt theo kích thước và độ tuổi: nhóm ngán nhỏ (41 - 45 mm) chỉ chứa khoảng 0,29 mg/kg, trong khi nhóm kích thước lớn nhất (61 - 65 mm) tích lũy lên tới 2,91 mg/kg, tăng gấp 10 lần (tương đương mức tăng 1000%). Tương tự, hàm lượng Thủy ngân trong ngán đạt đỉnh 0,55 mg/kg vào đợt tháng 7 ở nhóm kích thước 56 - 65 mm.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ rệt về mức độ tích lũy giữa 3 loài được giải thích bởi đặc điểm sinh thái và tập tính sinh dưỡng. Tu hài được nuôi trong lồng treo chứa giá thể cát ở tầng nước có độ trao đổi mạnh, nguồn thức ăn chủ yếu là thực vật phù du tầng mặt, nên mức tích lũy độc chất rất thấp. Ngược lại, ngán là loài sống vùi sâu từ 0,5 đến 1 mét dưới bùn đáy rừng ngập mặn, chu kỳ sinh trưởng kéo dài từ 2 đến 3 năm (so với chu kỳ 1 năm của tu hài và ngao trắng), tiếp xúc thường xuyên với trầm tích giàu mùn bã hữu cơ liên kết kim loại nặng, dẫn đến hiện tượng khuếch đại sinh học theo thời gian.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại Vân Đồn (Quảng Ninh), hàm lượng As trong tu hài tại Cát Bà (0,10 - 0,13 mg/kg) thấp hơn khoảng 10 lần so với tu hài Vân Đồn (1,014 - 1,060 mg/kg), đồng thời hàm lượng Hg cũng thấp hơn đáng kể (0,022 - 0,033 mg/kg so với 0,197 - 0,315 mg/kg). Nguyên nhân xuất phát từ chất lượng nước vùng nuôi vịnh Lan Hạ trong sạch hơn hẳn vùng nuôi Vân Đồn (nồng độ As trong nước tại Lan Hạ chỉ là 1,9 µg/l so với 12,86 µg/l tại Vân Đồn).

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ thanh so sánh hệ số BAF và BSAF giữa 3 loài, kết hợp đồ thị phân tán biểu diễn tương quan tuyến tính giữa chiều dài vỏ sinh vật và nồng độ As, Hg. Đồ thị cho thấy hệ số tương quan R bình phương đạt giá trị cao ở loài ngán, minh chứng cho xu hướng tích lũy tỷ lệ thuận với độ tuổi cá thể.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm kim loại nặng từ hải sản và thúc đẩy phát triển nghề nuôi bền vững, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện khung pháp lý và tiêu chuẩn chất lượng: Đề nghị Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung giới hạn nồng độ tối đa cho phép đối với Asen và Thủy ngân trong nhóm nhuyễn thể hai mảnh vỏ vào quy chuẩn QCVN 8-2:2011/BYT, hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2020 để tạo hành lang pháp lý kiểm soát an toàn thực phẩm.
  2. Khuyến cáo định mức tiêu thụ an toàn: Căn cứ theo hệ số ADI cho người trưởng thành có thể trọng 60 kg, người tiêu dùng có thể an tâm sử dụng tu hài và ngao trắng với định lượng thông thường. Tuy nhiên, đối với ngán khai thác tự nhiên tại bãi triều rừng ngập mặn, đặc biệt là các cá thể kích thước lớn trên 60 mm (có hàm lượng As đạt 2,91 mg/kg và Hg đạt 0,55 mg/kg), cần hạn chế mức tiêu thụ tối đa không quá 300 - 400 g thịt/người/tuần để tránh tích lũy độc chất mạn tính.
  3. Thiết lập mạng lưới quan trắc định kỳ: Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng và Quảng Ninh cần định kỳ 4 đợt/năm quan trắc chất lượng nước và bùn đáy tại các vùng nuôi ngao Đồng Bài và vùng bãi ngán Hoàng Tân, tập trung giám sát chặt chẽ các chỉ tiêu As, Hg và tải lượng chất rắn lơ lửng.
  4. Kiểm soát nguồn phát thải từ lục địa: Các khu công nghiệp, cơ sở luyện kim, nhiệt điện và chế biến công nghiệp dọc lưu vực sông Bạch Đằng, sông Kinh Thầy cần đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường, hướng tới mục tiêu giảm 25% tổng tải lượng kim loại nặng đổ ra biển trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy sản, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm): Sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ khoa học để hoạch định chính sách, xây dựng bổ sung tiêu chuẩn kiểm nghiệm độc chất trong hải sản hai mảnh vỏ thương phẩm.
  2. Viện nghiên cứu và giảng viên, sinh viên ngành Môi trường, Độc học sinh thái, Thủy sản: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về quy trình lấy mẫu, đông khô, phân tích AAS-HVG, CVAAS và phương pháp tính toán hệ số sinh học BAF, BSAF, ADI.
  3. Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nuôi trồng thủy sản ven biển: Nắm bắt đặc điểm tích lũy kim loại để lựa chọn vị trí đặt lồng bè thích hợp (ưu tiên vùng nước xa bờ như vịnh Lan Hạ), cải tạo nền đáy và kiểm soát thời điểm thu hoạch tối ưu nhằm nâng cao giá trị thương phẩm xuất khẩu.
  4. Chuyên gia dinh dưỡng và người tiêu dùng: Có thêm hiểu biết thực chứng về mức độ an toàn của từng loại hải sản, từ đó xây dựng khẩu phần ăn hợp lý, biết cách lựa chọn kích cỡ thủy hải sản an toàn nhằm bảo vệ sức khỏe gia đình.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao ngán lại tích lũy Asen và Thủy ngân cao hơn gấp nhiều lần so với tu hài và ngao trắng? Ngán sống vùi sâu từ 0,5 đến 1 mét dưới bùn đáy rừng ngập mặn cửa sông, nơi tích tụ nhiều cặn lắng công nghiệp. Chu kỳ sống của ngán kéo dài 2 đến 3 năm, dài hơn nhiều so với chu kỳ 1 năm của tu hài và ngao, tạo điều kiện cho độc chất tích lũy sinh học mạn tính vào mô cơ.

  2. Nồng độ Asen và Thủy ngân trong nước biển tại các điểm nghiên cứu có vượt quy chuẩn không? Kết quả phân tích 2 đợt khảo sát xác định nồng độ Asen trong nước đạt 1,9 đến 3,7 µg/l (dưới ngưỡng 20 µg/l) và Thủy ngân đạt 0,19 đến 0,33 µg/l (dưới ngưỡng 1 µg/l) theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT, chứng minh nguồn nước mặt ven bờ tại các vùng khảo sát vẫn nằm trong giới hạn an toàn.

  3. Có phải cá thể nhuyễn thể có kích thước càng lớn thì càng chứa nhiều kim loại nặng? Đúng đối với loài ngán và tu hài. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy ngán kích thước lớn (61 - 65 mm) có hàm lượng Asen lên tới 2,91 mg/kg, cao gấp 10 lần nhóm nhỏ (41 - 45 mm). Do đó, việc tiêu thụ các cá thể có kích thước quá lớn cần được kiểm soát về số lượng.

  4. Phương pháp phân tích quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS trong luận văn có ưu điểm gì? Kỹ thuật AAS-HVG đối với Asen và AAS-CVAAS đối với Thủy ngân cho phép hóa hơi nguyên tử ở nhiệt độ thích hợp, giúp phát hiện vết kim loại ở nồng độ cực nhỏ với độ chính xác cao, loại bỏ hoàn toàn các sai số do muối khoáng trong nền mẫu sinh vật biển.

  5. Chỉ số BAF và BSAF phản ánh điều gì trong đánh giá an toàn sinh thái? BAF và BSAF là các hệ số định lượng tỷ lệ tích tụ độc chất trong mô sinh vật so với nồng độ tương ứng trong nước và trầm tích. Chỉ số này giúp xác định loài sinh vật chỉ thị môi trường và dự báo nguy cơ lan truyền độc chất qua chuỗi thức ăn đến con người.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện hiện trạng tích lũy Asen và Thủy ngân trên 3 loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ quan trọng tại vùng biển Đông Bắc Bộ qua 2 đợt quan trắc chi tiết.
  • Xác định môi trường nước tại cả 3 vùng nuôi đều đạt quy chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT, tuy nhiên trầm tích vùng cửa sông tiếp nhận Thủy ngân cao hơn vùng biển hở.
  • Tu hài và ngao trắng có mức tích lũy độc chất thấp, an toàn cho tiêu dùng; trong khi ngán thể hiện khả năng tích lũy Asen và Thủy ngân tăng mạnh theo kích thước vỏ và tuổi thọ.
  • Thiết lập thành công hệ số BAF, BSAF và bảng định mức tiêu thụ thực phẩm an toàn theo chỉ số ADI cho người có thể trọng 60 kg.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp cơ quan quản lý ban hành tiêu chuẩn kiểm soát độc chất trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ và định hướng quy hoạch vùng nuôi an toàn giai đoạn 2020 - 2025.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp thủy sản hãy áp dụng ngay các khuyến nghị khoa học từ luận văn để nâng cao chất lượng hải sản Việt Nam và bảo đảm an toàn sức khỏe cho toàn cộng đồng.