LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu cũng như nhà sản xuất thực phẩm đang tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao. Họ thấy rằng, các hợp chất này thường có nguồn gốc từ thiên nhiên như: carotenoid, tocopherol, acid ascorbic và polyphenol có trong rau, củ, quả rất có lợi cho sức khoẻ cho con người, làm giảm khả năng mắc các bệnh hiểm nghèo. Theo các nghiên cứu, nguyên nhân sâu xa dẫn đến các bệnh nguy hiểm là từ sự stress oxi hoá. Stress ôxi hoá là sự mất cân bằng trong việc tạo các gốc tự do và sự hoạt động của các chất chống oxi hóa trong cơ thể.
Gốc tự do dư thừa có tác dụng không tốt cho cơ thể vì nó rất dễ dàng phản ứng với các đại phân tử sinh học của tế bào như ADN, lipid, protein và gây ra hàng loạt các bệnh thoái hóa như ung thư, xơ cứng động mạch, làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng, làm giảm trí nhớ, thoái hóa cơ quan bộ phận người cao tuổi. Các gốc tự do còn tấn công phá hủy hoặc ngăn cản sự tổng hợp các phân tử chất đạm, đường bột, mỡ, enzyme trong tế bào. Để hạn chế tác dụng không tốt của các gốc tự do, cách duy nhất có thể dùng là tăng cường hoạt động của hệ thống bảo vệ chống oxi hóa trong cơ thể. Hệ thống này bao gồm 2 nhóm chất chống oxi hóa: Các chất oxi hóa nội sinh (Bao gồm enzym chống oxi hóa) và các chất chống oxi hóa được cung cấp từ bên ngoài vào qua con đường thức ăn (Polyphenol, carotenoid, vitamin C & E.
Việc cung cấp các chất chống oxi hóa tự nhiên qua con đường thức ăn là đơn giản hơn cả. Flavonoid là một nhóm hợp chất tự nhiên rất phổ biến trong thực vật. flavonoid có trong lá, thân, quả của nhiều loại thực vật như: Cây chè, ca cao, sim, ổi… với hàm lượng cao. Hiện nay flavonoid được quan tâm nhiều do chúng có đặc tính chống oxy hoá và khả năng kháng khuẩn mạnh có thể ứng dụng nhiều trong dược phẩm cũng như thực phẩm.
Hiệu quả của quá trình tách trích ly flavonoid cũng như chất lượng dịch trích ly phụ thuộc trực tiếp vào nhiều yếu tố công nghệ: Loại dung môi, tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu, pH dịch trích ly, nhiệt độ trích ly, thời 14 gian trích ly.Các yếu tố này còn làm ảnh hưởng tới phương pháp làm sạch dịch và giá thành của dịch giàu flavonoid. Thấy rõ được vai trò tác dụng của flavonoid như là một chất chống oxy hoá đối với sức khoẻ con người và trong bảo quản thực phẩm, việc tìm các điều kiện thích hợp cho tách trích ly flavonoid từ các nguyên liệu tiềm năng là cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu điều kiện tối ưu trích ly các hợp chất chống oxy hóa từ lá vối”. Cây vối, một loại cây thân quen với người dân vùng quê các tỉnh Bắc Bộ, tên khoa học là Cleistocalyx operculatus (Roxb.
et Perry thuộc họ Sim (Myrtaceae). Từ lâu dân ta sử dụng lá vối để làm trà nấu hay hãm lấy nước uống hàng ngày vừa có tác dụng thanh nhiệt vừa có tác dụng kiện tỳ, tiêu thực. Thành phần chính trong nụ vối là flavonoid, với hơn 20 flavonoid khác nhau. Các flavonoid có các tác dụng sinh học quý như chống ung thư, chống dị ứng, chống co giật, giảm đau, nghẽn mạch, nghẽn phế quản, lợi mật, diệt nấm… Trong Dược Điển Việt Nam V đã có chuyên luận về lá và nụ vối.
Tuy nhiên chưa đi sâu về định lượng flavonoid trong nụ vối, trong khi flavonoid là thành phần chính và có nhiều tác dụng sinh học quan trọng. Với thực trạng trên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài “Tối ưu hóa điều kiện trích ly Flavonoid trong lá vối”. Kết quả đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng phương pháp trích ly để thu nhận được Flavonoid nhiều nhất từ lá vối phục vụ cho việc nghiên cứu và bào chế thuốc chữa bệnh. Các nội dung của đề tài gồm có: - Xác định được điều kiện trích ly tối ưu để thu nhận được tối đa hàm lượng flavonoid có trong lá vối bao gồm nhiệt độ chần, thời gian chần, nhiệt độ trích ly, thời gian trích ly, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu, nồng độ dung môi, pH.
Chúng tôi lựa chọn điều kiện xử lý phù hợp nhất cho quá trình trích ly để thu được hàm lượng flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa cao nhất, và ứng dụng bổ sung hoạt chất 15 flavonoid vào nước giải khát đóng chai như một “phụ gia” có công dụng bảo quản và tạo màu tự nhiên, thay thế cho phụ gia tổng hợp Phạm vi nghiên cứu: - Nghiên cứu được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm - Đối tượng nghiên cứu là lá vối tươi trồng tại cái vườn ở Thủ Đức Nội dung nghiên cứu gồm : - Khảo sát thông số quá trình chần để bất hoạt enzyme có trong lá vối bao gồm: nhiệt độ, thời gian. - Khảo sát điều kiện của quá trình trích ly flavonoid và hoạt tính kháng oxy hóa từ nguyên liệu lá vối bằng dung môi ethanol bao gồm: nhiệt độ, thời gian, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu, nồng độ dung môi, pH - Bố trí thí nghiệm tối ưu hóa các thông số đã khảo sát đơn yếu tố để tìm ra được thông số tối ưu của quy trình trích ly flavonoid từ lá vối. 16 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về cây vối 2.
Giới thiệu - Tên tiếng việt: Cây vối, vối nhà - Tên nước ngoài: Lid eugenia (Anh) - Tên khoa học: Cleistocalyx operaculatus (Roxb. et Perry - Tên đồng nghĩa: Eugenia operaculata Roxb., Syzygium nervossum DC., Syzygium operaculatum (Roxb. Phân loại khoa học - Trong hệ thống phân loại của A. Takhtajan (2009) [11], vị trí phân loại của loài Cleistocalyxoperculatus như sau: Giới: Thực vật (Plantea) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ: Sim (Myrtales) Họ: Sim (Myrtaceae) Chi: Cleistocalyx Loài: Cleistocalyx operculatus 2.
Khái quát về họ Sim Myrtaceae Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus Roxb, thuộc chi Cleistocalyx, họ Sim Mytaceae. Các cây thuộc họ Sim thường mọc xen lẫn với các cây gỗ khác thành đai rừng nhiệt đới, ít khi mọc thuần loại. 17 Họ Sim phân bố ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu ở châu Mỹ và châu Úc. Họ Sim là một họ lớn gồm 90 chi và 3000 loài, cây thuộc họ Sim có đặc điểm thực vật như sau: Cây gỗ lớn, cây nhỡ hoặc cây bụi.
Lá đơn, hoặc mép có khía răng, lá thường mọc đối nhau và có tuyến mỡ. Hoa mọc thành cụm ở nách hay ở đầu cành, có hình xim hoặc hình chùm. Hoa đều lưỡng tính. Đài hình ống dính hoàn toàn vào bầu hay chỉ dính một ít.
Lá đài gồm 4-5 cánh xếp lợp vào nhau, ít có ống dài nguyên. Nhị xếp thành một hay nhiều dãy rời nhau hoàn toàn hoặc dính ở gốc thành ống ngăn, bao phấn đính ở lưng hay gốc. Đĩa mật không có hay nếu có thì hình vành khăn, che kín ở phía gốc vòi. Bầu hoàn toàn hạ hay hạ một phần, có 4-5 ô hay nhiều hơn; vòi đơn kéo dài, đầu tròn, rất ít khi chia 3-4 thuỳ; trong bầu thì noãn xếp thành hai hay nhiều dãy.
Quả nang hoặc thịt, có sợi và thường được bọc kín bởi ống đài. Trong quả thường có 1 hạt, hạt có nội nhũ, phôi thẳng hay cong, đôi khi nạc với hai lá mầm không xa nhau. Tổng quan về chi Cleistocalyx Chi Cleistocalyx là một chi tương đối lớn của họ Sim. Ngoài đặc điểm chung của họ sim, các loài cây thuộc chi Cleistocalyx còn có đặc điểm thực vật riêng: Quả nạc, khi chín không nở.
Vòi không có lông, ô quả không có vách ngang chia thành ô nhỏ, ống đài nguyên hay rách bất định, đài nguyên thành mũ, quả mập có một hạt. Cụm hoa xim hay chùy. Sau đây là phần giới thiệu sơ bộ một số cây đại diện thuộc chi Cleistocalyx thường thấy ở Việt Nam. Cleistocalyx circumcissa Tên ở Việt Nam: Trâm Ô.
Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc cao 15m, nhánh mảnh, lá có phiến xoan thon, dài 4-7cm, chót có mũ, có đốm trong gân phụ, rất mảnh, nụ cao 13mm, rộng 3mm, phần của đài và cánh hoa làm thành một lớp rụng sớm với nhị, noãn gồm 3 buồng, quả mập; cây được trồng phổ biến ở rừng Biên Hòa. Cleistocalyx nigrans Tên Việt Nam: Trâm lá đen Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh vàng đỏ. Lá có phiến bầu dục, màu nâu đen trên mặt lúc khô, gân phụ cách nhau 2-3mm, cuống dài 1cm. Chùm tụ tán cao 6cm ở ngọn nhánh, hoa trắng, nụ dài 5mm, hoa 5 cánh rụng 1 lượt, tiểu nhị nhiều.
Quả mập tròn, lúc khô đen, to hơn 1cm, một hạt. Cây thường phân bố ở các vùng: Rừng Bình Dương, Thủ Đức. Cleistocalys nervosum Tên Việt Nam: Trâm nắp vối. Đặc điểm thực vật: Vối là loại cây thân mộc cỡ vừa, chiều cao trung bình 5 – 6 m nhưng có thể cao tới 12 – 15 m.
Vỏ cây màu nâu đen. Hoa nhỏ có màu trắng lục, họp thành cụm 3 – 5 hoa ở nách lá. Nụ hoa dài, 4 cánh, nhiều nhị. Cụm hoa hình tháp, trải ra ở kẽ các lá đã rụng.
Cây Vối ra hoa vào tháng 5 – 7 hàng năm. Quả Vối hình cầu hay hình trứng, nhăn nheo, đường kính 7-12mm, nháp, có dịch, khi chín màu tím. Cây thường phân bố ở các vùng: Rừng và Bắc Trung Nam. Cleistocalyx rehnervinus Tên Việt Nam: Vối gân mạng Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh tròn xám, to 2-3mm.
Lá có phiến bầu dục đến trái xoan, to 9-14 x 5,5-7cm chót lá rộng, đáy tròn gân phụ mịn, cách nhau 4-8mm, gân cách bìa 2-3mm. Phát hoa ở lá và ngọn. Hoa như không cọng, cao 7mm, đài rụng thành chóp, tiểu nhụy nhiều. Trái tròn, to 1.5mm, lùm bụi.
Cleistocalyx consperipuactatus Tên Việt Nam: Vối nước Đặc điểm thực vật: Cây thân gỗ, cao 20-25m, vỏ dày 6- 8 mm, vỏ có màu xám trắng hay nâu đen nhạt. Cành non màu nâu xám, hình vuông, lúc già hình cột tròn. 19 Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục dạng trứng ngược dài 6-12cm, rộng 2,5-5,5cm, đầu tròn tù. Hoa mọc cụm, sinh ra đầu cành.
Hoa lưỡng tính, đài hoa đính thành 1 thể dạng mũ, lúc nở hoa rụng dạng vòng. Nhiều nhị, rời nhau, lúc chồi hoa cong vào. Quả mọng hình cầu hay hình trứng, lúc chín có màu nâu tím. Một năm có 2 mùa hoa nở vào tháng 3 và giữa tháng 7.
Cây thường phân bố ở các vùng: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, GiaLai, KonTum. Tìm hiểu chung về cây vối 2.