Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu; Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Dựa trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm này, tác giả xây dựng mô hình phân tích; Chương 3 tác giả tiến hành xây dựng phương pháp, quy trình và mô hình nghiên cứu. Đồng thời, giới thiệu dữ liệu và mô tả các biến số cũng như đưa ra các giả thuyết trong nghiên cứu; Chương 4 giới thiệu tổng quan về tình hình tăng trưởng kinh tế và lao động khu vực ĐBSCL. Bên cạnh đó, chương này trình bày kết quả thực nghiệm sau khi chạy hồi quy và giải thích kết quả xuất hiện trong mô hình; Cuối cùng là chương 5, tác giả tóm lược những vấn đề mà đề tài đã giải quyết.
Từ đó, đưa ra một số gợi ý chính sách đồng thời trình bày một số hạn chế của đề tài nhằm mở rộng cho những nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2014 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Mục đích của chương 2 nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và vốn con người. Chương này được chia làm ba phần: Phần đầu tiên của chương, trình bày các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết về vốn con người và lý thuyết về hàm sản xuất Cobb – Douglas; Phần thứ hai cung cấp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; Phần cuối cùng của chương là xây dựng khung phân tích cho vấn đề nghiên cứu. Khái niệm và lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế 2.
Khái niệm tăng trƣởng kinh tế Theo Soubbotina (2001) tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng của một nền kinh tế. Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Trong đó, GDP là giá trị bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính). Tổng luận các mô hình tăng trƣởng kinh tế Từ trước đến nay, qua mỗi thời kỳ kinh tế thay đổi đều hình thành những lý thuyết và mô hình kinh tế đặc trưng tương ứng.
Các lý thuyết, mô hình đó đóng vai trò quan trọng diễn tả những quan điểm cơ bản nhất về sự phát triển kinh tế qua từng giai đoạn thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng. Do đó, các lý thuyết cùng mô hình kinh tế cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện dựa trên cơ sở kế thừa, phát triển các lý thuyết và mô hình trước đó để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Sau đây, tác giả trình bày tóm tắt một số mô hình tăng trưởng kinh tế với những quan điểm về yếu tố nguồn lực và tác động của chúng tới tăng trưởng kinh tế như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2014 5 Mô hình tăng trƣởng của David Ricardo (trƣờng phái Cổ Điển) Trường phái Cổ Điển xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ 17 và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 18 đến nữa cuối thế kỷ 19 với hai đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo. Adam Smith (1723 – 1790) là một nhà kinh tế chính trị học, ông được coi là người mở đường cho phát triển lý luận kinh tế với tác phẩm tiêu biểu là “của cải của đất nước”, theo ông chính lao động được sử dụng trong những hoạt động có ích, có hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị của xã hội.
Số công nhân “hữu ích và hiệu quả” cũng như năng suất lao động của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích lũy, Adam Smith coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Ông đưa ra hai học thuyết cơ bản là học thuyết về “Giá trị lao động” và học thuyết về “Bàn tay vô hình”. David Ricardo (1772 – 1823) ông được coi là tác giả xuất sắc nhất của trường phái Cổ Điển. Ông đã sử dụng ý tưởng của Adam Smith và của T.H Malthus để sáng lập ra học thuyết của riêng mình “Mô hình tăng trưởng của Ricardo”.
Theo Ricardo có 3 yếu tố tác động tới tăng trưởng gồm lao động (L), vốn (K), và tài nguyên (R). Trong 3 yếu tố nêu trên thì tài nguyên (R) là yếu tố quan trọng nhất. Tài nguyên chính là giới hạn của tăng trưởng bởi vì khi sản xuất nông nghiệp gia tăng trên những đất đai kém màu mỡ hơn thì giá lương thực, thực phẩm sẽ tăng lên. Do đó, tiền lương danh nghĩa tăng lên, lợi nhuận của nhà tư bản giảm.
Khi tài nguyên đạt điểm dừng tại Ro và Y sẽ đạt sản lượng tối đa, thì điểm đó sẽ là giới hạn của tăng trưởng (hình 2.1), lúc này nền kinh tế chia làm hai khu vực, khu vực 1 là nông nghiệp trì trệ tuyệt đối, khu vực 2 là khu vực công nghiệp. Như vậy, khi chưa đến điểm dừng Ro thì R là yếu tố quyết định tăng trưởng, khi đạt điểm dừng Ro thì tích lũy cho khu vực công nghiệp mới là yếu tố quyết định tăng trưởng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Giới hạn của sự tăng trƣởng R Y R0 K, L Nguồn: Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa (Ricardo, 2002) Vậy, lý luận của Ricardo là: Tăng trưởng là hàm của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận lại phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí sản xuất lương thực phụ thuộc vào đất đai. Do đó, đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng.
Mô hình tăng trƣởng của trƣờng phái Tân Cổ Điển (mô hình Cobb – Douglas) Trường phái Tân Cổ Điển xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật với một loạt các phát minh khoa học và nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất. Người đứng đầu của trường phái này là Marshall (1842 – 1924) với tác phẩm chính “các nguyên lý của kinh tế học”. Theo mô hình của trường phái Tân Cổ Điển, các yếu tố tác động tới tăng trưởng gồm: Lao động (L), vốn (K), tài nguyên thiên nhiên (R) và khoa học – công nghệ (T). Trong mô hình này, các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển đã chia các yếu tố nguồn lực ra làm 2 nhóm: Nhóm các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng (gồm: K, L và R) và nhóm yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu (T).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2014 7 Theo hàm sản xuất Cobb – Douglas, đã mô hình hóa sự phát triển qua số liệu của các nước và đã lượng hóa cụ thể sự đóng góp của các yếu tố nguồn lực tới tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, các nhà kinh tế của trường phái Tân Cổ Điển cũng cho rằng công nghệ có vai trò quan trọng nhất tới tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển bác bỏ quan điểm sản xuất đòi hỏi tỷ lệ nhất định giữa lao động và vốn, do đưa yếu tố công nghệ vào họ cho rằng có nhiều cách kết hợp giữa lao động và vốn trong sản xuất và phát triển. Do đó, có nhiều con đường để tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng các công nghệ khác nhau phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia.
Trường phái Tân Cổ Điển đã kế thừa và phát triển mô hình tăng trưởng của trường phái Cổ Điển. Đồng thời, cũng giống như mô hình tăng trưởng của trường phái Cổ Điển mô hình của trường phái Tân Cổ Điển cũng bao gồm các yếu tố: Lao động (L), vốn (K) và đất đai (R) là các nhân tố tăng trưởng kinh tế. Cả hai mô hình đều phủ nhận vai trò của chính phủ trong việc điều tiết nền kinh tế, ủng hộ thị trường tự do chịu điều tiết của “Bàn tay vô hình”. Tóm lại, mô hình tăng trưởng của trường phái Tân Cổ Điển đã nhận ra vai trò của yếu tố công nghệ và cho rằng nó là yếu tố quan trọng nhất tác động tới tăng trưởng, nhờ có công nghệ mà có nhiều cách kết hợp đầu vào trong sản xuất.
Mô hình tăng trƣởng Harrod – Domar (mô hình tăng trƣởng của trƣờng phái Keynes) Học thuyết kinh tế của trường phái Keynes ra đời vào những năm 30 của thế kỷ 20 sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933, khi mà các lý thuyết trước đó đã không còn phù hợp với điều kiện mới.Maynard Keynes (1883 – 1946) cho ra đời tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã đánh dấu sự ra đời của trường phái Keynes. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2014 8 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar đã kế thừa và phát triển từ mô hình tăng trưởng của Ricardo. Theo đó, đầu tiên các nhân tố tác động tới tăng trưởng chỉ gồm có lao động (L) và nguồn vốn (K). Tiếp đến, để tăng trưởng kinh tế cần đầu tư vào vốn dự trữ.
Nói cách khác tiết kiệm (S) và đầu tư (I) là yếu tố quyết định tăng trưởng trong mô hình Harrod – Domar. Chính vì vậy ở đây đã có sự xuất hiện vai trò của chính phủ trong việc điều tiết các nguồn tiết kiệm, tích lũy và đầu tư. Mô hình cũng đưa ra cách tính hệ số ICOR có ý nghĩa thực tế trong việc đánh giá năng lực quản lý, giá cả của đầu tư trong hoàn cảnh yếu tố công nghệ như nhau, trình độ công nghệ và mức độ khan hiếm của các yếu tố nguồn lực. Có thể nói mô hình Harrod – Domar được thể hiện bằng hàm sản xuất giản đơn nhất và nổi tiếng nhất được sử dụng trong nghiên cứu, phân định và phát triển kinh tế.
Mô hình được sử dụng phổ biến trong các nước đang phát triển, được xem là một phương pháp đơn giản để xem xét mối quan hệ tăng trưởng và nhu cầu tư bản. Đặc biệt, trong một số trường hợp nó tỏ ra rất hữu ích trong tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới thông qua việc huy động vốn. Như vậy, mô hình cho thấy sự tiến bộ là đã khẳng định được vai trò quan trọng của chính phủ trong việc điều tiết, ổn định và tăng trưởng nền kinh tế. Yếu tố nguồn lực R ở đây không chỉ đơn thuần là đất đai mà được mở rộng lên thành tài nguyên thiên nhiên.
Mô hình tăng trƣởng của Solow (1956) Năm 1956 dựa trên tư tưởng thị trường tự do của trường phái Tân Cổ Điển Robert Solow đã xây dựng mô hình tăng trưởng mới.