chương I đến chương XXIV (trừ cá và các sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác thuộc hệ thống thuế HS (Hệ thống hài hòa hóa mã số thuế). Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ nông nghiệp như: Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như: lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, hoa quả tươi,v.v… 21 Các sản phẩm phái sinh như: bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt,v.v… Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô,v.v… -Theo Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp của Lào: Theo phân loại của Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp của Lào, hàng hoá nông sản được hiểu theo nghĩa bao trùm cả ngành sản xuất của khu vực I (sản xuất nông lâm thủy sản) bao gồm 19 chủng loại. Đối với cách hiểu này, nông sản bao gồm: Các sản phẩm từ trồng trọt như: ngô, khoai, lúa, gạo, cà phê,v.v…; Các sản phẩm từ chăn nuôi như: trâu, bò, lợn, gà,v.v…; Gỗ và sản phẩm từ gỗ, các lâm sản ngoài gỗ. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và sản phẩm chế biến từ nông sản được xem là sản phẩm công nghiệp.
Như vậy, cách hiểu về nông sản của Lào và Việt Nam có sự tương đồng với nhau. Trong nội dung nghiên cứu đề tài này, nông sản là bao gồm các sản phẩm từ nông nghiệp (trồng trọt ), và các sản phẩm lâm nghiệp. Khái niệm xuất khẩu nông sản Xuất khẩu hàng hóa nói chung và XKNS nói riêng là một hoạt động TMQT, xuất hiện từ lâu trên thế giới. Nhiều lý thuyết TMQT đã được hình thành từ nhiều thế kỷ nay.
Nhiều công trình nghiên cứu đã lý giải từ khái niệm, vai trò, lợi ích và nhiều vấn đề khác liên quan đến TMQT nói chung và xuất khẩu hàng hóa, XKNS nói riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay, khái niệm xuất khẩu hàng hóa nói chung và XKNS nói riêng chưa được thống nhất. Theo Đại Học Ngoại Thương, Giáo trình Kinh tế ngoại thương, 2017: “Xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài. Theo Điều 28 Luật Thương mại (năm 2006), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo Thư viện mở Việt Nam (VOER), xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa, 22 dịch vụ ra nước ngoài một cách có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài, nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
Theo cách hiểu này, xuất khẩu hàng hóa không đơn thuần chỉ là việc bán hàng hóa cho nước ngoài mà còn là việc tổ chức nguồn hàng trong nước, tổ chức mạng lưới tiêu thụ ở nước ngoài nhằm mục tiêu bán được nhiều hàng hóa với giá cao cho nước ngoài. Hoạt động xuất khẩu không chỉ mang lại lợi nhuận cho chính những chủ thể mà còn mang lại lợi ích to lớn của cả đất nước. Đó là thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triển KTXH, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khác với xuất khẩu dịch vụ, trong xuất khẩu hàng hóa thì hàng hóa xuất khẩu là những sản phẩm hữu hình, được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất hoặc các khu chế xuất nhằm mục đích để tiêu thụ tại nước ngoài.
Chủ thể thực hiện xuất khẩu hàng hóa có thể là Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Đối tượng của xuất khẩu hàng hóa là các loại hàng hóa hữu hình được sản xuất ra ở trong nước. Từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm XKNS như sau: XKNS là một loại xuất khẩu hàng hóa, đó là việc bán hàng nông sản cho nước ngoài nhằm đạt được các lợi ích kinh tế, xã hội. Theo đó, chủ thể của hoạt động XKNS là các doanh nghiệp XKNS.
Đây là những doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh hàng nông sản theo quy định của pháp luật, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, thực hiện hoạt động bán hàng nông sản ra nước ngoài. Đối tượng của XKNS là hàng nông sản, có thể được sản xuất, chế biến trong nước hoặc mua để xuất khẩu (như tạm nhập, tái xuất). Lợi ích của hoạt động XKNS: Đối với doanh nghiệp XKNS, thực hiện hoạt động XKNS nhằm thu được lợi nhuận để tái đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường; đối với người dân, hoạt động XKNS nhằm nâng cao thu nhập, nâng cao năng suất, cải thiện đời sống; đối với Nhà nước, hoạt động XKSN nhằm thu ngoại tệ, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khác với hoạt động thương mại nội địa, hoạt động XKNS gắn với thị trường 23 ngoài nước có phạm vi rộng lớn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng như nhu cầu, văn hóa, thói quen, lối sống.
Trong thế giới hội nhập ngày nay, các quốc gia đều quan tâm đến chiến lược khuyến khích xuất khẩu bởi nhiều mục đích, như: mở rộng thị trường ngoài nước trong khi thị trường trong nước đang có xu hướng không tăng trưởng; xuất khẩu thu được ngoại tệ để bù đắp khoản ngoại tệ cho nhập khẩu; và các mục tiêu tiếp nhận các văn minh của nước nhập khẩu cho doanh nghiệp và người tiêu dùng… So với việc xuất khẩu các hàng hóa phi nông sản thì hoạt động XKNS cũng có nhiều khác biệt. Thứ nhất, hàng hóa xuất khẩu là hàng nông sản với đặc điểm là chịu sự tác động mạnh bởi điều kiện tự nhiên và môi trường như dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chất. Có những nông sản đặc trưng cho từng địa phương khác nhau tùy theo điều kiện về tự nhiên như đất đai, thời tiết, khí hậu. Do đó, XKNS cũng cần phải tính toán kỹ lưỡng về thời gian thu mua - bán hàng, về điều kiện bảo quản, chế biến.
Thứ hai, XKNS là lĩnh vực quan trọng, mang tính nhạy cảm cao và thường gặp các hàng rào bảo hộ thuế quan và phi thuế quan. Hầu hết các nước đều muốn bảo vệ ngành nông nghiệp cũng như người nông dân nên nhiều chiến lược có lợi cho nền sản xuất trong nước được ban hành, gây khó khăn cho các nước XKNS. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều XKNS và cũng nhập khẩu hàng nông sản do điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng ở các quốc gia là khác nhau. Đặc điểm của sản xuất và xuất khẩu nông sản Một là, đối tượng xuất khẩu là hàng nông sản.
Ở Lào, hàng nông sản là sản phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, và từ hoạt động khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, các sản phẩm nghề muối. Đó là những sản phẩm trực tiếp do sản xuất nông nghiệp tạo ra có thể nằm dưới dạng thô hoặc ở dạng sơ chế. Có sự khác biệt trong khái niệm hàng nông sản giữa WTO và Lào. Ở Lào, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp.
Các ngành công nghiệp chế biến NLTS lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp. Trong WTO, hàng nông sản là 24 tất cả các sản phẩm liệt kê từ Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa hóa mã số thuế). NSXK là một loại hàng hoá xuất khẩu, được bán trên thị trường ngoài nước. Vì vậy, nó cần phải đáp ứng được các nhu cầu của nước nhập khẩu và người tiêu dùng tại nước nhập khẩu về các chỉ số dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, an toàn kỹ thuật, môi trường.
Nông sản chủ yếu là các hàng tiêu dùng thiết yếu, việc XKNS chịu sự kiểm soát ngặt nghèo về chất lượng, đặc biệt là VSATTP. Đồng thời, hàng nông sản có đặc điểm là cầu nhìn chung ít co giãn, do đó, việc QLNN đối với XKNS phải hướng tới việc ổn định cung. Hai là, chủ thể của XKNS (hay còn gọi là người bán) là doanh nghiệp kinh doanh XKNS. Các thương lái và người nông dân của nước sở tại là các trung gian trong quá trình XKNS.
Nếu tổ chức không tốt dễ dẫn đến tranh giành, cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá. Ba là, người bán và người mua hàng NSXK là những người sống ở các nước khác nhau, có phong tục, tập quán và những nhu cầu khác nhau đối với tiêu dùng hàng nông sản. Bốn là, xem xét hoạt động XKNS theo chuỗi giá trị. Từ sản xuất đến xuất khẩu, hàng nông sản phải trải qua ba khâu chính: sản xuất nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp), thu mua, sơ chế/chế biến và bảo quản nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp - dịch vụ), và cuối cùng là xuất khẩu nông sản (thuộc lĩnh vực thương mại).
Các khâu này đều liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau. Mỗi một khâu trong quá trình này đều có những đặc điểm riêng biệt. Xuất khẩu (tiêu thụ) là khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị của hàng nông sản. Đây là khâu thu được nhiều lợi nhuận nhất trong chuỗi.
Hoạt động XKNS tuân theo sự điều tiết của thị trường và được tiến hành trên cơ sở tự do, bình đẳng theo giá cả thị trường. Trong QLNN, cần điều tiết lợi ích giữa các khâu, phối hợp giữa các bộ ngành để nâng cao GTGT của nông sản. 25 Năm là, hoạt động XKNS có nhiều nước tham gia. Mỗi nước có thể thực hiện tất cả các khâu trong chuỗi giá trị hàng NSXK, từ sản xuất, chế biến, đến XKNS, hoặc chỉ tham gia khâu chế biến và XKNS tùy thuộc vào khả năng và điều kiện của từng nước.
Các nước có lợi thế trong hoạt động XKNS không phụ thuộc vào việc nước đó đã XKNS nhiều năm hay không. Điều quan trọng để giành được lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chất lượng, thương hiệu, thông tin thị trường hàng NSXK… Sáu là, trong HNQT, hoạt động XKNS phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường thế giới. Việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương về cơ bản mang lại những tác động tích cực cho hoạt động XKNS. Ngoài ra, các thay đổi về cung cầu hàng nông sản, về chiến lược của nước nhập khẩu, về đối thủ cạnh tranh đều có tác động lớn đến hoạt động XKNS.