phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬN ðỂ ðẨY MẠNH XUẤT KHẨU GẠO 1. Thuyết trọng thương Thuyết trọng thương ra ñời vào khoảng cuối thế kỷ XV ở Anh và Pháp sau ñó lan rộng ra cả châu Âu. Theo ñó, sự giàu có, thịnh vượng của một quốc gia ñược thể hiện qua số lượng quý kim - ñược coi là tài sản quốc gia - mà quốc gia ñó nắm giữ.
Con ñường duy nhất ñể gia tăng tài sản quốc gia là phát triển ngoại thương. Hoạt ñộng thương mại quốc tế là trò chơi có tổng lợi ích bằng zero (Zero – sum game): giữa hai quốc gia giao thương với nhau, nếu bên này có lợi thì bên kia phải chịu thiệt tương ứng. Do ñó, ñòi hỏi trong quan hệ ngoại thương phải luôn xuất siêu ñể ñảm bảo lợi ích quốc gia. Nhưng họ cũng rất tiến bộ khi thấy ñược vai trò quan trọng của Chính phủ trong hoạt ñộng thương mại quốc tế thông qua các chính sách: bảo hộ mậu dịch, ñộc quyền kinh doanh trên phạm vi lãnh thổ quốc gia ñể giành ưu thế cạnh tranh với nước ngoài, hạn chế nhập khẩu… ñể chi phối toàn bộ thị trường, nhằm ñạt mục tiêu xuất siêu mang lại nhiều vàng bạc cho quốc gia.
(1) Mặc dù có những nhược ñiểm nhất ñịnh, nhưng thuyết trọng thương ñã biết coi trọng thương mại quốc tế và vai trò Chính phủ trong hoạt ñộng ñó. Ngày nay, nếu chúng ta biết vận dụng sáng tạo thì học thuyết này vẫn mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và ngành lúa gạo Việt Nam nói chung. Cụ thể, muốn phát triển ngành lúa gạo, thì chúng ta phải ñẩy mạnh xuất khẩu. Bên cạnh nỗ lực của các doanh nghiệp thì Chính quyền (Nhà nước và chính quyền ñịa phương) ñóng vai trò ñặc biệt quan trọng trong quy hoạch và phát triển ngành nông nghiệp mũi nhọn này.TS ðoàn Thị Hồng Vân – Chủ nhiệm ñề tài (2004), Một số giải pháp ñẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam, ðề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ trường ðại học Kinh tế TPHCM, TPHCM.
Học thuyết lợi thế tuyệt ñối của Adam Smith Quan niệm về lợi thế tuyệt ñối do nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh, Adam Smith, phát hiện. Ông cho rằng, sự giàu có của quốc gia phản ánh qua năng lực sản xuất chứ không phải qua số quý kim nắm giữ và “Nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt ñối (tức chi phí lao ñộng thấp hơn so với các nước khác) và nhập khẩu những mặt hàng mà mình không có lợi thế tuyệt ñối thì tất cả các quốc gia ñều có lợi”. Theo ñó mỗi quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà họ sản xuất có hiệu quả hơn (vì lượng lao ñộng tuyệt ñối yêu cần cho mỗi ñơn vị sản phẩm ít hơn). Vận dụng học thuyết tuyệt ñối của Adam Smith tác giả thấy rằng: Việt Nam có nhiều lợi thế tuyệt ñối ñể phát triển ngành lúa gạo (như: trình ñộ thâm canh cao, diện tích ñất ñai phục vụ cho sản xuất lúa gạo lớn, thời tiết thuận lợi cho sản xuất lúa gạo, nhân lực dồi dào…), vì vậy nên tập trung phát triển ngành nghề truyền thống này ñể ñảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu.
Tác giả nhận thấy lợi thế tuyệt ñối chỉ giải thích ñược một phần nhỏ của thương mại quốc tế. Nếu vậy, thì ở các quốc gia nhỏ bé không có lợi thế tuyệt ñối trong bất kỳ sản phẩm nào thì thương mại quốc tế không xảy ra sao? Hay giữa các nước lớn có nhiều lợi thế tuyệt ñối hơn hẳn các nước khác thì việc trao ñổi mậu dịch có xảy ra hay không? Lúc này việc giải thích bằng lợi thế tuyệt ñối không còn chính xác nữa, phải dựa vào lợi thế so sánh. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo Học thuyết lợi thế so sánh (lợi thế tương ñối) ñược ñề xướng ñầu tiên bởi nhà kinh tế học người Anh, David Ricardo, vào năm 1817. Theo ông, nếu một quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh thì tất cả các quốc gia ñều có lợi.
Lợi thế so sánh ở ñây không chỉ là lợi thế có ñược do sự khác biệt về tài nguyên thiên nhiên như quan ñiểm của thuyết tuyệt ñối, mà lợi thế còn dựa trên trình 123doc -4- ñộ phát triển của yếu tố sản xuất mỗi quốc gia (ví dụ: trình ñộ của nguồn nhân lực, trình ñộ khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật…) và lợi thế so sánh không phải là bất di bất dịch mà nó sẽ thay ñổi theo thời gian và trình ñộ phát triển của mỗi quốc gia/ñịa phương. Nếu lợi thế so sánh càng lớn thì càng có ưu thế trong xuất khẩu. Vận dụng học thuyết này ta thấy: ðể phát triển lúa gạo hướng về xuất khẩu không những phải khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát huy kinh nghiệm lâu ñời của nền “văn minh lúa nước”, mà còn phải không ngừng nâng cao trình ñộ khoa học kỹ thuật trong khâu sản xuất lẫn chế biến, nâng cao năng suất và chất lượng gạo xuất khẩu… Bên cạnh ñó việc hoàn thiện các chính sách, thủ tục trong xuất khẩu gạo cũng góp phần không nhỏ ñể sáng tạo nên lợi thế so sánh mới. Cho ñến nay bản chất của quy luật này vẫn không thay ñổi, nó vĩ ñại ở chỗ ñã chứng minh ñược rằng tất cả các quốc gia, bất kể có lợi thế tuyệt ñối hay không, ñều có lợi khi giao thương với nhau, khắc phục ñược nhược ñiểm cơ bản của Adam Smith.
Vì thế quy luật lợi thế so sánh của D.Ricardo ñược coi là một trong những quy luật quan trọng nhất của nền kinh tế. Lý thuyết Heckscher – Ohlin Lý thuyết H – O ñược trình bày như sau: các quốc gia cần chú trọng chuyên môn hóa sản xuất ñể xuất khẩu những sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà trong nước sẵn có dồi dào (như là lao ñộng ñối với các nước ñang phát triển) và nhập khẩu trở lại những sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà trong nước khan hiếm tương ñối (như là vốn và kỹ thuật ñối với các nước ñang phát triển) (2) Lý thuyết này có giá trị cao trong việc vận dụng vào thực tế phát triển ngoại thương ñối với những quốc gia ñang phát triển có thế mạnh về nông nghiệp như Việt Nam. Trong trường hợp này các doanh nghiệp xuất khẩu có nhiều thuận lợi ñể ñẩy mạnh xuất khẩu gạo, sản phẩm thâm dụng tài nguyên nhưng giá trị gia tăng chưa cao. Ngô Thị Ngọc Huyền (2000), ðịnh hướng phát triển ngoại thương trên ñịa bàn TP.
Hồ Chí Minh ñến 2010, Nhà xuất bản Thống kê, TPHCM 123doc -5- này cũng chứng minh là tại sao trong cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ñang phát triển thì ñại bộ phận hàng xuất khẩu là sản phẩm thâm dụng lao ñộng và có nguồn gốc từ tài nguyên. Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này là ñã không tính ñến ảnh hưởng của thương mại quốc tế ñối với sự thay ñổi giá cả các yếu tố sản xuất. Lý thuyết lợi thế nhờ quy mô Lý thuyết này cho rằng quy mô sản xuất càng tăng thì sản xuất càng thu ñược nhiều lợi thế do chi phí giảm. Do ñó, tốt hơn là nên sản xuất một số hàng hóa ñể tận dụng lợi thế nhờ quy mô, còn các mặt hàng khác sẽ ñược ñáp ứng thông qua con ñường trao ñổi.
Nhờ vậy, cả hai nước tham gia buôn bán ñều có lợi do tối thiểu hóa chi phí sản xuất. Vận dụng lý thuyết này ta thấy ñến nay gạo vẫn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, tạo nguồn thu ngoại tệ, việc làm và góp phần xóa ñói giảm nghèo trên diện rộng. Nhưng ñể phát triển gạo thành một ngành hàng có giá trị kinh tế cao thì cần quy hoạch các vùng trồng lúa, chuyên môn hóa các khâu nhằm hình thành chu trình khép kín từ trồng trọt, thu hoạch, chế biến, xuất khẩu, ñưa các hoạt ñộng liên quan ñến gạo vận hành theo hướng thương mại hóa. Lý thuyết thương mại hóa dựa trên các “sản phẩm ñược khác biệt” Thông thường, ở mỗi quốc gia, mỗi ñịa phương nhà sản xuất chỉ tập trung làm những sản phẩm phục vụ cho thị hiếu ña số.
ðiều này sẽ tạo ra khoảng trống cho thị hiếu của thiểu số và thị hiếu này sẽ ñược thỏa mãn một cách hữu hiệu thông qua con ñường nhập khẩu, vì sản phẩm nhập khẩu sẽ có “sự khác biệt” so với sản phẩm trong nước. Hơn thế nữa, sự khác biệt của sản phẩm và lợi thế quy mô lại có liên hệ mật thiết với nhau. Cạnh tranh khốc liệt trên thị trường quốc tế buộc mỗi hãng sản xuất ở các nước chỉ tập trung sản xuất một số loại hàng hóa với một số kiểu dáng nhất ñịnh ñể tận dụng lợi thế quy mô và chi phí sản xuất cho mỗi ñơn vị sản phẩm thấp nhất. 123doc -6- Vận dụng học thuyết này ta thấy: ñể ñẩy mạnh xuất khẩu gạo thì bên cạnh gieo trồng những giống lúa hiện có, thì cần phải nghiên cứu ñể tạo ra một giống lúa quốc gia chất lượng cao xuất phát từ thực tiễn sản xuất và gắn với doanh nghiệp.
Lý thuyết phát triển bền vững Dựa trên nguyên lý tài nguyên môi trường là cố ñịnh, ñể phát triển bền vững thì mỗi thế hệ phải có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ñể có thể chuyển giao cho thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên thiên nhiên không nhỏ hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên mà thế hệ hiện nay ñang có. Vận dụng lý thuyết phát triển bền vững theo tác giả thì ñể hoạt ñộng xuất khẩu của các doanh nghiệp phát triển bền vững và hội nhập thì phải chú trọng tới vấn ñề môi trường, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, bảo ñảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo ñảm quyền lợi cho người trồng lúa. ðiều này thực sự là một thách thức to lớn ñòi hỏi phải thường xuyên tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn, ñầu tư… làm thay ñổi nhận thức ñể các hộ trồng lúa chuyển từ sản xuất truyền thống sang thực hiện chương trình tiêu chuẩn sản xuất tốt trong nông nghiệp GAP (Good Agricultural Practices) ñể cung cấp những sản phẩm hữu cơ vừa tăng giá trị xuất khẩu vừa duy trì nguồn tài nguyên ñất cho thế hệ mai sau. Ngoài các lý thuyết nêu trên, lý thuyết chi phí cơ hội của G.