Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm các vấn đề được nghiên cứu, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, tóm tắt kết quả nghiên cứu và những đóng góp từ kết quả nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương này, luận văn trình bày các khái niệm về thủy sản, nuôi trồng thủy sản, xuất khẩu thủy sản. Đồng thời trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Trên nền tảng lý thuyết trình bày ở chương 2 và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu, cách thức đo lường các biến trong mô hình, các kỹ thuật phân tích số liệu cũng được trình bày trong chương này. Chương 4: Kết quả phân tích hồi quy tác động của các nhân tố đến xuất khẩu thủy sản Chương trình sẽ trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu đạt được để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết được đưa ra. Chương 5: Kết luận về kết quả nghiên cứu, khuyến nghị một số giải pháp từ kết quả nghiên cứu và những hạn chế của đề tài. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị nhằm hạn chế các rào cản đến xuất khẩu thủy sản của các nước Đông Nam Á.
Luận văn cũng chỉ ra các giới hạn trong nghiên cứu này và đề xuất gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương này trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về xuất khẩu thủy sản, các nhân tố tác động đến xuất khẩu thủy sản và lý thuyết về thương mại quốc tế. Sau đó, luận văn sẽ tiến hành phân tích và nhận xét các kết quả nghiên cứu thực nghiệm có trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu để có cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu ở chương 3.1 Lý thuyết về mô hình trọng lực Mô hình trọng lực từ lâu đã là một trong những mô hình thực nghiệm thành công nhất trong kinh tế. Kết hợp các nền tảng lý thuyết về trọng lực vào thực tế gần đây đã dẫn đến một ước lượng phong phú hơn và chính xác hơn, giải thích các quan hệ không gian được mô tả bằng trọng lực.
Thông qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm về thương mại quốc tế và các đo lường tác động trong rào cản phi thuế quan, Đỗ Thái Trí (2007), Nguyễn Xuân Bắc (2010), Nguyễn Văn Hồng (2012), James Cassing cùng các tác giả (2010), Shujiro Urata và Misa Okabe (2007), Tang Yihong và Wang Weiwei (2004) đều sử dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu, tiếp cận và đưa ra những đánh giá tích cực về tính thuyết phục của mô hình. Cho đến nay đây là mô hình được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế, là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước. Mô hình trọng lực nghiên cứu dự đoán về dòng thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế và khoảng cách giữa các nước. Cụ thể là cường độ thương mại giữa 2 nước có quan hệ thuận với quy mô và quan hệ nghịch với khoảng cách của 2 nước.
Phương trình chuẩn là: Fij = G*(MiMj)/Dij Trong đó Fij là luồng thương mại giữa nước i và j, M là biến số đo khối lượng (kích cỡ), D là “khoảng cách” giữa các nước (không chỉ là khoảng cách vật lý như chi phí vận chuyển, hoặc sự khác biệt về ngôn ngữ tạo “khoảng cách” giữa 2 quốc gia) và G là một hằng số. Trong nghiên cứu kinh tế, mô hình trọng lực thường 5 được đưa về dạng Log để giảm bớt biên độ biến động. Các biến thường được đưa vào mô hình áp dụng cho nghiên cứu về dòng thương mại như sau: Ln(trade flows) = a0 + a1lnX1 + a2lnX2 + …+ eijt Các biến chính của mô hình: GDP của từng quốc gia, dân số, khoảng cách giữa 2 thủ đô hoặc giữa 2 thành phố là trung tâm kinh tế của quốc gia đó, các sự kiện như ký kết các hiệp định thương mại hoặc ban hành các rào cản thương mại giữa các nước được đưa vào mô hình bằng biến giả.2 Cơ sở lý thuyết về thương mại ngành thủy sản Khái niệm về nuôi trồng thủy sản Theo định nghĩa của FAO thì nuôi trồng thuỷ hải sản là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh. Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong.
Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh. Phát triển nuôi trồng thủy sản có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng bằng cách mở rộng diện tích đất đai, mặt nước, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nuôi trồng thuỷ sản thấp kém, sử dụng những kỹ thuật sản xuất giống giản đơn, kết quả nuôi trồng thuỷ sản đạt được chủ yếu nhờ vào độ phì nhiêu đất đai, thuỷ vực và sự thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, hiệu quả sản xuất thấp. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo chiều sâu là tăng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản dựa trên cơ sở đầu tư thêm vốn, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với mỗi hình thức nuôi.
Như vậy phát triển nuôi trồng theo chiều sâu là làm tăng sản lượng và hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm vốn, kỹ thuật và lao động. Lý thuyết lợi thế so sánh, 1815 Thực tiễn cho thấy, các quốc gia trên thế giới tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế vì hai lý do chính, xét trên phương diện nào thì mỗi lý do đều nói lên lợi ích mang lại từ ngoại thương. Thứ nhất, các nước hoạt động thương mại vì họ 6 khác nhau. Mỗi quốc gia đều có thể hưởng lợi từ sự khác biệt thông qua đạt được thỏa thuận sao cho mỗi nước sẽ chuyên sản xuất và xuất khẩu những gì họ tương đối giỏi hơn các nước khác.
Lý do thứ hai, các quốc gia hoạt động thương mại để đạt được lợi thế theo quy mô trong sản xuất. Nghĩa là, nếu mỗi nước sản xuất một tập hợp hàng hóa có hạn, họ sẽ sản xuất từng loại hàng hóa trên quy mô lớn hơn và qua đó sẽ hoạt động hiệu quả hơn so với khi họ cố gắng sản xuất đủ mọi thứ. Mô thức trao đổi thương mại quốc tế phản ánh sự tương tác của cả hai động cơ này. Ví dụ điển hình về lợi thế so sánh của Ricardo là ví dụ về trao đổi bông/rượu giữa Bồ Đào Nha và Anh.
Nếu là Bồ Đào Nha không thể sản xuất vải trong những điều kiện thuận lợi như ở Anh, nghĩa là nếu họ phải dành nhiều thời gian và lao động hơn Anh, thì họ lại có lợi thế trong việc sản xuất rượu vang và họ dùng phương tiện trao đổi để mua vải bông ở Anh, trong khi nước này không thể sản xuất rượu vang trong những điều kiện thuận lợi như ở Bồ Đào Nha. Ông đã chứng minh rằng sau khi có thương mại mỗi nước chỉ tập trung sản xuất hoàng hóa mà mình có lợi thuế so sánh, tổng sản lượng của cả hai nước đều tăng hơn trước so với trước khi có thương mại. Lý thuyết này được phát triển dựa trên quan điểm lợi thế tuyệt đối của Adam Smith. Theo đó, Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác.
Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại. Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế. Lý thuyết của Ricardo được xây dựng trên một số giả thiết: - Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác định; 7 - Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia; - Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài; Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động; - Công nghệ của hai quốc gia như nhau; - Chi phí sản xuất là cố định; - Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ); Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo; - Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế; - Chi phí vận chuyển bằng không; - Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá. - Và chính những giả định này là hạn chế của mô hình này.
Ví dụ giả định rằng các nhân số sản xuất có thể dịch chuyển hoàn hảo nảy sinh hạn chế nếu trên thực tế không được như vậy. Những người sản xuất rượu vang của Anh có thể không dễ dàng tìm được việc làm (chuyển sang sản xuất bông) khi nước Anh không sản xuất rượu vang nữa sẽ thất nghiệp. Nền kinh tế vì vậy sẽ không toàn dụng nhân công làm cho sản lượng giảm sút. Chính vì thế mặc dù nguyên tắc lợi thế so sánh có thể được tổng quát hóa cho bất kỳ quốc gia nào, với nhiều loại hàng hóa, nhiều loại đầu vào, tỷ lệ các nhân tổ sản xuất thay đổi, lợi suất giảm dần khi quy mô tăng…và là nền tàng của thương mại tự do nhưng những hạn chế như ví dụ vừa nêu lại lập luận để bảo vệ thuế quan cũng nhưng các rào cản thương mại khác.