CHƯƠNG 1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ TRỢ CẤP VÀ TRỢ CẤP XUẤT KHẨU 1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TRỢ CẤP 1.1 Khái niệm về trợ cấp: Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chính phủ về kinh tế - xã hội - chính trị, …. Tuy vậy, việc đi đến một khái niệm tương đối chính xác và thống nhất về “trợ cấp” là một chủ đề gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả. Một vấn đề cũng gây tranh cãi không kém là làm thế nào để phân biệt giữa các hình thức trợ cấp chấp nhận được với các trợ cấp gây bóp méo thương mại, hay trả lời câu hỏi “Những trợ cấp nào không được chấp nhận trong thương mại quốc tế?”. Tùy theo mục đích mà định nghĩa trợ cấp có thể rộng hay hẹp.
Chẳng hạn, định nghĩa rất hẹp về trợ cấp có thể chỉ bao gồm mỗi biện pháp cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một số doanh nghiệp cụ thể. Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện pháp cấp tiền trực tiếp này. Do đó, có thể gây khó khăn hoặc nhầm lẫn trong việc so sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau. Tuy nhiên, định nghĩa rộng hơn về trợ cấp lại cũng có những điểm yếu riêng như bao trùm cả ảnh hưởng do các hoạt động của chính phủ vào phạm vi định nghĩa, dẫn tới việc đánh đồng nhiều hoạt động của chính phủ cũng mang tính chất của một biện pháp trợ cấp.
Ví dụ như bảo hiểm thất nghiệp có thể bị coi là trợ cấp gián tiếp cho một số ngành nghề nhất định mang tính thời vụ hoặc chu kỳ. Hay chi phí của chính phủ cho các hàng hóa công cộng như tư pháp, an ninh, giáo dục, đường sá, quốc phòng,… cũng có thể bị xem là trợ cấp. 6 Theo định nghĩa của Từ điển Oxford dành cho giới kinh doanh (nhà xuất bản Đại học Oxford 1994), “trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa ế và tránh tạo ra thất nghiệp,…. Nhìn chung, trợ cấp gây bóp méo thương mại quốc tế và không phổ biến nhưng đôi khi vẫn được các chính phủ sử dụng để giúp tạo dựng một ngành sản xuất mới trong nước”.
Như vậy trợ cấp của chính phủ là một công cụ trực tiếp tái phân phối nguồn thu ngân sách của chính phủ cho một số đối tượng. Trợ cấp có thể dưới dạng cho vay, xóa nợ, hoàn hoặc miễn thuế. Trong một số trường hợp khác, chính phủ không nhất thiết phải trích từ nguồn ngân sách của mình để trợ cấp mà có thể thông qua công cụ luật pháp để hướng nguồn lực từ nhóm đối tượng này chuyển sang cho nhóm đối tượng khác, cụ thể ở đây là làm lợi cho nhà sản xuất bằng tiền từ túi người tiêu dùng thông qua việc hỗ trợ giá.2 Các quan điểm về trợ cấp xuất khẩu: - Trợ cấp xuất khẩu (định nghĩa theo Bách khoa toàn thư): Sự ưu đãi về tài chính hay cung cấp tiền bổ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu hay người sản xuất nhằm giảm giá thành hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới. - Trợ cấp xuất khẩu là những khoản chi chính phủ thực hiện để khuyến khích hoạt động xuất khẩu của những sản phẩm xác định.
Tương tự như với thuế, các khoản trợ cấp có thể được tính trên một cơ sở cụ thể nào đó hoặc trên cơ sở giá hàng hóa. Nhóm sản phẩm được trợ cấp xuất khẩu phổ biến nhất là sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm chế biến từ sữa. - Trợ cấp xuất khẩu là những khuyến khích đặc biệt từ phía chính phủ nhằm cổ vũ hoạt động bán hàng ra nước ngoài. Các khoản trợ cấp phụ thuộc vào biểu hiện xuất khẩu, có thể dưới hình thứcchi trả bằng tiền mặt, chuyển nhượng hàng trong kho chính phủ tại mức giá thấp hơn giá thị trường, các khoản trợ cấp được tài trợ bởi nhà sản xuất, nhà chế biến như là kết quả từ của những vận động từ phía chính phủ chẳng hạn như thẩm định, trợ cấp marketing, trợ cấp chuyên chở hàng hóa và 7 trợ cấp cho hàng hóa phụ thuộc sự tham gia của chúng vào nhóm các sản phẩm xuất khẩu.3 Phân loại trợ cấp: 1.1 Trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp: Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chi trợ cấp thành trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp.
Theo cách hiểu thông thường, trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu giống cây, giống con; trợ cấp cho nông dân trồng lúa, trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp; thưởng theo kim ngạch xuất khẩu nông sản; áp dụng cước phí vận tải ưu đăi với nông sản xuất khẩu; v. Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm công nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đăi với sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa; áp dụng lăi suất cho vay ưu đăi với các dự án phát triển sản phẩm công nghiệp trọng điểm v.
Các hiệp định của WTO cũng tạm chia ra điều chỉnh trợ cấp theo: trợ cấp nông nghiệp (gồm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông sản), trợ cấp phi nông sản. Hiệp định SCM tạm thời được hiểu là chỉ điều chỉnh về trợ cấp phi nông sản (tức là các sản phẩm ngoài phạm vi Hiệp định nông nghiệp).2 Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu: Dưới góc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu. Trợ cấp trong nước được hiểu là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường trong nước, hay nói cách khác, hàng hoá được trợ cấp phải là hàng hoá được tiêu thụ tại thị trường nội địa của nhà sản xuất. Doanh nghiệp được trợ cấp không nhất thiết phải là doanh nghiệp 100 % vốn trong nước.
Ví dụ chính phủ cung ứng điện với giá thấp cho ngành sản xuất phân bón trong nước (gồm cả DN 100 % vốn trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghệp liên doanh). Tuy nhiên, 8 trợ cấp trong nước có thể có tác động gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu nếu sản phẩm do doanh nghiệp nhận trợ cấp sản xuất ra cuối cùng lại được xuất khẩu. Trong trường hợp đó, trợ cấp trong nước của một nước sẽ được nhìn nhận như một dạng “trợ cấp xuất khẩu” dưới góc độ của nước nhập khẩu hàng hoá được trợ cấp. Như vậy, tuy rằng mục đích thực chất ban đầu của trợ cấp này không nhằm khuyết khích xuất khẩu nhưng ảnh hưởng hay tác động của trợ cấp đối với những sản phẩm được xuất khẩu lại giống với trợ cấp xuất khẩu và do vậy mà có thể bị các nước nhập khẩu điều tra đánh thuế chống trợ cấp.
Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnh sản xuất. Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hoá xuất khẩu thực sự hoặc dự kiến xuất khẩu. Ví dụ: chương trình thưởng xuất khẩu của chính phủ theo đó doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được. Tuy nhiên, việc chính phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu không thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đến một số yếu tố khác.
Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu.3 Trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể dẫn tới hành động và trợ cấp không dẫn tới hành động: Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 dạng dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại đại chúng: Trợ cấp bị cấm áp dụng (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu. Hai dạng trợ cấp này bị cấm sử dụng vì tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của các nước thành viên WTO khác. Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần, dù theo luật hay trên thực tế vào việc thực hiện hoạt động xuất khẩu. 9 Trợ cấp khuyết khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu (hay còn gọi là trợ cấp thay thế nhập khẩu) là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần vào việc sử dụng hàng xuất khẩu trong nước so với hàng nhập khẩu.
Ví dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất trong nước chiếm ít nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đăi thuế. Nhiều trường hợp các nước còn sử dụng kết hợp cả hai dạng trợ cấp bị cấm này, như trợ cấp 60 USD/tấn bột mỳ xuất khẩu nhằm bù đắp lại việc công ty phải chấp nhận chỉ sử dụng lúa mì trong nước với giá cao hơn thông thường để sản xuất bột mì. Trợ cấp có thể dẫn tới hành động trả đũa (trợ cấp đèn vàng) là trợ cấp có khả năng bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc có thể bị đánh thuế chống trợ cấp nếu trợ cấp đó gây thiệt hại đối với nước thành viên WTO khác. Trong mọi trường hợp, nếu một nước muốn áp dụng hành động khắc phục thương mại chống lại hành vi trợ cấp của nước khác, nước đó phải chứng tỏ được rằng trên thực tế, hành vi của nước khác đúng là trợ cấp theo định nghĩa tại Điều 1 Hiệp định SCM, là trợ cấp riêng biệt theo Điều 2 hiệp định này, và gây tác động thương mại bất lợi cho nước muốn áp dụng hành động khắc phục thương mại.
Trợ cấp không dẫn tới hành động trả đũa (trợ cấp đèn xanh) là trợ cấp không bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp.