CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HIỆP HỘI MẬU DỊCH TỰ DO CHÂU ÂU 1. Khái niệm, hình thức và vai trò xuất khẩu nông sản 1. Khái niệm nông sản Có khá nhiều cách hiểu khác nhau về nông sản, trong mục này, đề tài sẽ trình bày quan điểm tiêu biểu về nông sản của một số tổ chức quốc tế và trong nước. Quan điểm của WTO Theo quan điểm của WTO, hàng hóa được chia làm hai nhóm chính là nông sản và phi nông sản.
Nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp, đó là: • Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mì, bột mì, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi.; • Các sản phẩm phái sinh như bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt.; • Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô.; Điểm đáng lưu ý trong quan điểm của WTO là nông sản không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp. Cách định nghĩa này khác với quan điểm của Việt Nam. Quan điểm của FAO Theo quan điểm của FAO, nông sản hay sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp là bất kỳ sản phẩm hoặc mặt hàng nào, ở dạng thô hoặc đã qua chế biến, được đem bán để phục vụ cho tiêu dùng của con người (ngoại trừ nước, muối và các chất phụ gia) hoặc để làm thức ăn cho gia súc. 7 Quan điểm của EU Cụ thể hơn quan điểm của FAO, EU đưa ra một danh sách khá chi tiết các mặt hàng được xếp vào nhóm nông sản.
Có thể chia các mặt hàng này thành 2 nhóm chính sau: Nhóm 1: Động vật và các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, bao gồm 6 mặt hàng sau: Động vật sống; thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau khi giết mổ; các chế phẩm từ thịt; sản phẩm từ sữa; các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật; mỡ, dầu động vật. Nhóm 2: Thực vật và các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, bao gồm 14 mặt hàng sau: Cây sống và các loại cây trồng khác; rau, thân, củ và quả có thể ăn được; hạt và quả có dầu; cây công nghiệp nguyên liệu, cây dược liệu; các chế phẩm từ rau, hoa quả, quả hạch và thực vật; cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị; ca cao và các chế phẩm từ ca cao; ngũ cốc; các sản phẩm xay xát; các chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột; cánh kiến đỏ, gôm, nhựa cây và các chất nhựa; đường và các loại kẹo đường; đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và các sản phẩm tương tự; mỡ, dầu thực vật. Quan điểm của Việt Nam Ở Việt Nam, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp. Theo cách hiểu này thì nông sản bao gồm sản phẩm thu được từ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp; các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản được gộp vào lĩnh vực công nghiệp.
Qua những dẫn giải nêu trên có thể thấy, mỗi tổ chức lại có cách hiểu khác nhau về nông sản. Các quan điểm của WTO, FAO và EU tương đối giống nhau và rộng hơn Việt Nam. Nếu ở Việt Nam, các mặt hàng bánh kẹo, nước ngọt, rượu, bia, đường sữa được xếp vào ngành công nghiệp thì các tổ chức trên lại xếp chúng vào ngành nông nghiệp. Ngược lại, các lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp được Việt Nam xếp vào ngành nông nghiệp thì các tổ chức này lại không thừa nhận.
Chính vì có sự phân loại khác nhau như vậy nên giá trị nông sản sản xuất và xuất khẩu của một quốc gia do các tổ chức này công bố hàng năm có sự chênh lệch nhau đáng kể. Phân loại nông sản Để phù hợp với phạm vi nghiên cứu và đảm bảo khả năng phân tích sâu về thực trạng, đề tài tập trung vào các nhóm nông sản xuất khẩu chủ lực có tiềm năng và giá trị cao, đồng thời đáp ứng được yêu cầu khắt khe của thị trường EFTA. Các nhóm nông sản được chọn bao gồm: Trái cây tươi và chế biến Trái cây tươi nhiệt đới: Các loại trái cây đặc sản của Việt Nam như xoài, thanh long, nhãn, vải, dứa được thị trường EFTA quan tâm nhờ giá trị dinh dưỡng cao và hương vị độc đáo. Tuy nhiên, nhóm sản phẩm này đối mặt với thách thức lớn về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và bảo quản lạnh trong quá trình vận chuyển.
Trái cây chế biến: Các sản phẩm như trái cây sấy khô, đông lạnh hoặc nước ép từ trái cây nhiệt đới đang ngày càng được ưa chuộng tại thị trường EFTA, đặc biệt ở phân khúc tiêu dùng cao cấp và thân thiện với môi trường. Cà phê và các sản phẩm chế biến từ cà phê Cà phê nhân: Việt Nam là nhà xuất khẩu cà phê robusta hàng đầu thế giới, và sản phẩm này có vị thế vững chắc tại EFTA, đặc biệt ở Thụy Sĩ - nơi ngành công nghiệp cà phê chế biến phát triển mạnh. Cà phê chế biến: Cà phê hòa tan, cà phê rang xay từ Việt Nam đang có tiềm năng lớn nhờ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tiện lợi, mặc dù cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu khác. Thủy sản (Tôm và Cá tra/Basa) Tôm đông lạnh và chế biến: Tôm Việt Nam đã có mặt tại các nước thuộc EFTA với khối lượng ổn định, 9 nhưng cần cải thiện hơn nữa về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.
Cá tra/basa đông lạnh: Sản phẩm cá tra và basa có tiềm năng mở rộng tại EFTA, nhờ giá cả cạnh tranh, song vẫn đối diện với các rào cản phi thuế quan như quy định về nuôi trồng bền vững và tiêu chuẩn môi trường. Xuất khẩu nông sản Xuất khẩu nông sản là hoạt động kinh tế đưa các sản phẩm từ ngành nông nghiệp của một quốc gia ra thị trường quốc tế nhằm mục tiêu tiêu thụ, trao đổi thương mại, và tạo nguồn thu ngoại tệ. Các nông sản xuất khẩu bao gồm các sản phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi, và nuôi trồng thủy sản. Đây là lĩnh vực không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia mà còn góp phần nâng cao vị thế của sản phẩm nông nghiệp trên bản đồ thương mại thế giới.
Hoạt động xuất khẩu nông sản có những đặc điểm riêng biệt. Trước hết, nguồn gốc của nông sản là từ các hoạt động sản xuất tự nhiên, phụ thuộc lớn vào điều kiện khí hậu, đất đai, và mùa vụ, dẫn đến tính thời vụ cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của nguồn cung. Thứ hai, các thị trường quốc tế, đặc biệt là những khu vực như EU hoặc EFTA, thường có yêu cầu rất cao về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, và chứng nhận liên quan đến bền vững.
Điều này đặt ra thách thức cho các nhà xuất khẩu trong việc tuân thủ các quy định khắt khe về môi trường, nguồn gốc, và quy trình sản xuất. Mặt khác, xuất khẩu nông sản cũng phản ánh năng lực của một quốc gia trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và cải tiến chất lượng sản phẩm. Ví dụ, những sản phẩm như gạo đặc sản, cà phê, hạt điều, hoặc trái cây nhiệt đới của Việt Nam đã khẳng định được vị thế trên thị trường quốc tế nhờ sự cải thiện về chất lượng và khả năng cạnh tranh về giá cả. Tuy nhiên, để duy trì và mở rộng thị phần, các doanh nghiệp xuất khẩu phải đầu tư vào công nghệ chế biến sâu và nâng cao năng lực chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của người tiêu dùng toàn cầu.
10 Xuất khẩu nông sản không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là cầu nối văn hóa, đưa hình ảnh đất nước và bản sắc dân tộc đến với bạn bè quốc tế thông qua những sản phẩm mang đậm dấu ấn địa phương. Vì vậy, đây là lĩnh vực chiến lược cần được đầu tư và phát triển một cách toàn diện, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay. Các hình thức xuất khẩu nông sản Xuất khẩu hàng hóa thường được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu tại chỗ, tái xuất khẩu và gia công xuất khẩu. Tương tự như vậy, nông sản cũng được xuất khẩu theo những cách thức này: - Xuất khẩu trực tiếp: Là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản xuất, người cung cấp) và người mua liên hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc, thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác.
- Xuất khẩu qua trung gian: Là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung gian, và người thứ ba này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định. Người trung gian phổ biến trong các giao dịch là các đại lý và môi giới. - Xuất khẩu tại chỗ: Là hình thức xuất khẩu ngay tại đất nước mình. Đó là việc bán hàng và thực hiện các dịch vụ cho người nước ngoài.
Hàng xuất khẩu tại chỗ có thể dùng ngay tại chỗ hoặc được người mua đem ra nước ngoài. - Hình thức tái xuất khẩu: Là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước mua khác những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích của việc thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hóa ở nước này rồi bán hàng hóa với giá cao hơn ở nước khác và thu hồi về số vốn lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu. Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: hình thức tạm nhập - tái xuất và hình thức chuyển khẩu, trong đó: 11 + Hình thức tạm nhập - tái xuất được hiểu là việc mua hàng của một nước để bán cho nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương, làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào, rồi sau đó làm thủ tục xuất khẩu mà không qua gia công, chế biến.
+ Hình thức chuyển khẩu: Hàng hóa chuyển khẩu được chia thành hai loại. Một là, hàng hóa sau khi nhập cảnh xin với hải quan cho vận chuyển đến một địa điểm hải quan khác để làm thủ tục hải quan nhập khẩu.