Tổng quan luận án
Công trình "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam" được tác giả Ngô Thị Mỹ thực hiện năm 2016 tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Nhuận Kiên và PGS.TS. Trần Chí Thiện, thuộc chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp (mã số: 62.15).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam và những biến động phức tạp của hoạt động xuất khẩu nông sản qua các thời kỳ. Tính đến hết năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt 30,8 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân 14,54% trong giai đoạn 1997–2014. Một số mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, hạt tiêu đã tạo dựng được vị thế trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu nông sản có sự biến động phức tạp: năm 2009 đạt 13,4 tỷ USD (giảm 12,31% so với năm 2008); năm 2013 đạt 22,3 tỷ USD (tăng 66,42% so với năm 2009), chiếm 1,43% thị phần thế giới xét theo kim ngạch nhưng giảm 0,05% thị phần so với năm 2012. Tác giả chỉ ra rằng lý luận và thực nghiệm quốc tế tuy đã đề cập nhiều đến xuất khẩu nông sản nhưng vẫn tồn tại tranh cãi do chưa đưa được đầy đủ các nhân tố vào phân tích cũng như chưa đánh giá toàn diện sự tương tác giữa các nhân tố. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở phân tích thực trạng mang tính mô tả, thiếu vắng các nghiên cứu định lượng chuyên sâu để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp trên cơ sở phát huy ảnh hưởng của nhân tố có lợi và hạn chế ảnh hưởng của nhân tố bất lợi nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2020.
- Các mục tiêu cụ thể:
- Góp phần hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận cũng như tổng kết các nghiên cứu thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản;
- Phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam, trên cơ sở đó làm rõ những thành tựu và hạn chế trong hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam giai đoạn 1997–2013;
- Đề xuất một số giải pháp phát huy ảnh hưởng của nhân tố có lợi và hạn chế ảnh hưởng của nhân tố bất lợi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản nói chung và một số nông sản cụ thể của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập trên ba khía cạnh:
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu, đánh giá và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến xuất khẩu nông sản nói chung và hai mặt hàng nông sản có lợi thế so sánh lớn, kim ngạch xuất khẩu cao trong nhiều năm là gạo và cà phê. Nội dung hướng tới đề xuất giải pháp đẩy mạnh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.
- Về thời gian: Do độ trễ của nguồn số liệu được công bố bởi các quốc gia, bộ số liệu thứ cấp đầy đủ nhất được luận án khai thác phục vụ phân tích định lượng và định tính thuộc giai đoạn 1997–2013; một số nội dung thảo luận mở rộng cập nhật thêm số liệu giai đoạn 2014–2015.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu nông sản của Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ đối tác thương mại, trong đó đi sâu phân tích thị trường khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên minh Châu Âu (EU).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các nhân tố tác động tới thương mại nông sản theo hai phương diện: phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu.
Về phương pháp, các nghiên cứu quốc tế sử dụng phương pháp định tính (Robert, 1994; Onaran, 2008) để đánh giá vai trò của cơ sở hạ tầng, chính sách kinh tế đối với xuất khẩu nông nghiệp ở các nước đang phát triển. Khi phân tích định lượng phát triển, các mô hình kinh tế lượng được áp dụng rộng rãi, tiêu biểu gồm mô hình SMART (cân bằng bộ phận), mô hình GTAP (cân bằng tổng thể) và mô hình trọng lực (Gravity Model). Trong đó, mô hình trọng lực có ưu thế xem xét đồng thời lực đẩy từ phía cung (nước xuất khẩu), lực hút từ phía cầu (nước nhập khẩu) và các yếu tố cản trở hoặc hỗ trợ dòng thương mại. Các nghiên cứu định lượng quốc tế tiêu biểu sử dụng mô hình trọng lực bao gồm: Sevela (2002) tại Cộng hòa Séc; Gbetnkom và Khan (2002) nghiên cứu ca cao, cà phê, chuối tại Cameroon; Thai Tri Do (2006) phân tích thương mại song phương giữa Việt Nam và 23 nước châu Âu; Erdem và Nazlioglu (2008) phân tích nông sản Thổ Nhĩ Kỳ sang EU; Malhotra và Stoyanov (2008) đánh giá hiệp định thương mại Canada – Chile; Rahman (2009) tại Bangladesh; Folawewo và Olakojo (2010) tại Nigeria; Hatab và cộng sự (2010) tại Ai Cập; Idsardi (2010) tại Nam Phi; Wei và cộng sự (2012) phân tích xuất khẩu chè của Trung Quốc gắn với rào cản tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm; Yang và Martínez-Zarzoso (2014) nghiên cứu khu vực mậu dịch tự do ACFTA. Về kỹ thuật hồi quy, bên cạnh phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), các tác giả Feenstra và cộng sự (2002), Egger và Pfaffermayr (2003), Martínez-Zarzoso và Nowak-Lehmann (2003) nhấn mạnh tính ưu việt của mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) trên dữ liệu bảng (panel data).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phạm Hồng Tú (1998), Hoàng Thị Ngọc Lan (2005), Trịnh Thị Ái Hoa (2006), Ngô Thị Tuyết Mai (2007), Lương Xuân Quỳ (2008), Nguyễn Minh Sơn (2010), Nguyễn Thành Trung (2012), Nguyễn Văn Hùng (2013) tập trung mô tả thực trạng, đánh giá năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng và chính sách thương mại nông sản nhưng chủ yếu sử dụng thống kê mô tả hoặc phân tích định tính. Một số ít nghiên cứu ứng dụng mô hình trọng lực như Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) về mức độ tập trung thương mại Việt Nam – ASEAN+3; dự án MUTRAP III (2010) đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do; Nguyễn Tiến Dũng (2011) nghiên cứu hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA). Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước chưa đi sâu lượng hóa các nhân tố đối với từng nhóm hàng nông sản cụ thể.
| Tên biến |
Xu hướng tác động |
Tác giả và năm nghiên cứu |
| GDP nước xuất khẩu |
+ |
Sevela (2002); Hatab và cộng sự (2010); Wei và cộng sự (2012) |
| GDP nước nhập khẩu |
+ |
Hatab và cộng sự (2010); Wei và cộng sự (2012) |
| GDP gộp chung hai nước |
+ |
Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) |
| Dân số nước xuất khẩu |
+ / - |
Martínez-Zarzoso và Nowak-Lehmann (2003); Wei và cộng sự (2012) |
| Dân số nước nhập khẩu |
- |
Martínez-Zarzoso và Nowak-Lehmann (2003); Wei và cộng sự (2012) |
| GDP bình quân/người nước xuất khẩu |
- |
Sevela (2002); Hatab và cộng sự (2010) |
| GDP bình quân/người nước nhập khẩu |
- |
Sevela (2002); Hatab và cộng sự (2010) |
| Độ mở nền kinh tế nước xuất khẩu |
+ |
Hatab và cộng sự (2010) |
| Tỷ giá hối đoái |
- |
Gbetnkom và Khan (2002); Martínez-Zarzoso và Nowak-Lehmann (2003) |
| Khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia |
- |
Đào Ngọc Tiến (2009); Hatab và cộng sự (2010); Wei và cộng sự (2012) |
| Đường biên giới chung |
+ |
Hatab và cộng sự (2010); Wei và cộng sự (2012) |
| Ngôn ngữ chung |
+ |
Hatab và cộng sự (2010); Wei và cộng sự (2012) |
| Tham gia khu mậu dịch tự do, khối hợp tác kinh tế |
+ |
Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) |
| Tiêu chuẩn vệ sinh ATTP / kiểm định thực vật |
Chưa rõ |
Wei và cộng sự (2012) |
| Thuế xuất nhập khẩu |
- |
Đào Ngọc Tiến (2009); Wei và cộng sự (2012) |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước đã kiểm định nhiều biến số kinh tế vĩ mô và địa lý, song chưa có công trình nào đưa biến "diện tích đất nông nghiệp" vào mô hình trọng lực để giải thích dòng thương mại nông sản, dù đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong trồng trọt. Đồng thời, luận án lấp đầy khoảng trống về phương pháp nghiên cứu tại Việt Nam bằng việc áp dụng mô hình trọng lực với dữ liệu bảng cho ngành hàng nông sản tổng thể và hai mặt hàng gạo, cà phê.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án tổng hợp các quan niệm về nông sản của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO), Liên minh Châu Âu (EU) và Việt Nam. Luận án thống nhất khái niệm: "Nông sản là sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật nuôi (không bao gồm sản phẩm của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp)". Để phục vụ phân tích thống kê và định lượng, luận án sử dụng Danh mục tiêu chuẩn ngoại thương phiên bản 3 (SITC Rev. 3), bao gồm các nhóm SITC 0 (lương thực và động vật sống), SITC 1 (đồ uống và thuốc lá), SITC 2 (nguyên liệu thô không dùng để ăn, trừ dầu mỡ) và SITC 4 (dầu mỡ động thực vật); trong đó loại trừ nhóm SITC 27 (phân bón thô và khoáng sản thô) và SITC 28 (quặng kim loại và phế liệu kim loại) nhằm đảm bảo phù hợp với định nghĩa của WTO. Nông sản được xác định có năm đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cơ bản: tính thời vụ; phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên; chất lượng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng; tính tươi sống khó bảo quản; và tính đa dạng về chủng loại, chất lượng.
Luận án dựa trên nền tảng của các học thuyết thương mại quốc tế:
- Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Khẳng định phân công lao động và chuyên môn hóa dựa trên lợi thế tuyệt đối về điều kiện tự nhiên, năng suất tạo ra thặng dư hàng hóa để trao đổi thương mại;
- Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: Chứng minh các quốc gia vẫn nhận được lợi ích khi trao đổi thương mại nếu tập trung sản xuất mặt hàng có chi phí cơ hội thấp hơn;
- Lý thuyết tỷ lệ yếu tố sản xuất Heckscher – Ohlin (H-O): Giải thích lợi thế so sánh bắt nguồn từ sự dồi dào tương đối của các nguồn lực sẵn có (đất đai, lao động, vốn);
- Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter: Phân tích mô hình kim cương gồm bốn yếu tố tương tác (điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành).
Luận án phân loại ba hình thức xuất khẩu nông sản chính: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua trung gian (đại lý, môi giới), và tái xuất khẩu (gồm tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu). Đồng thời, luận án hệ thống hóa bảy vai trò của xuất khẩu nông sản đối với phát triển kinh tế: (1) đóng góp vào tăng trưởng GDP theo mô hình tổng cầu của Keynes; (2) thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy nguồn lực; (3) tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn; (4) giữ ổn định nền kinh tế; (5) thúc đẩy kinh tế đối ngoại và vị thế quốc gia; (6) đẩy mạnh phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế; (7) thúc đẩy hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước phù hợp thông lệ quốc tế.
Cơ sở lựa chọn các nhân tố được luận án kế thừa từ mô hình trọng lực thương mại quốc tế khởi xướng bởi Tinbergen (1962) và Linnemann (1966), kết hợp khung phân tích của Đào Ngọc Tiến (2008). Khung phân tích phân chia các nhân tố thành ba nhóm:
- Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu: quy mô kinh tế ($GDP_{it}$), quy mô dân số ($POP_{it}$), diện tích đất nông nghiệp ($LAN_{it}$), tỷ lệ lạm phát ($INF_{it}$), độ mở nền kinh tế ($OPEN_{it}$);
- Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu: quy mô kinh tế ($GDP_{jt}$), quy mô dân số ($POP_{jt}$), diện tích đất nông nghiệp nước nhập khẩu ($LAN_{jt}$);
- Nhóm nhân tố hấp dẫn hoặc cản trở: khoảng cách địa lý ($DIS_{ij}$), khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế ($EDIS_{ijt}$), tỷ giá hối đoái thực ($ER$), và việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Về phương pháp phân tích, luận án kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng. Trong phân tích định lượng, luận án xây dựng mô hình trọng lực mở rộng ước lượng trên dữ liệu bảng (panel data) trong giai đoạn 1997–2013 cho ba đối tượng: kim ngạch xuất khẩu nông sản tổng thể, kim ngạch xuất khẩu gạo và kim ngạch xuất khẩu cà phê. Luận án thực hiện so sánh và kiểm định lựa chọn giữa các mô hình: Bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), Mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Để khắc phục các khuyết tật của dữ liệu bảng như hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, luận án áp dụng kỹ thuật ước lượng mô hình REM với sai số chuẩn mạnh (Robust Standard Errors).
Hệ thống chỉ tiêu phân tích gồm:
- Nhóm chỉ tiêu quy mô: Kim ngạch xuất khẩu ($KNXK$), sản lượng xuất khẩu ($SL$), tốc độ tăng trưởng bình quân ($TTBQ$);
- Nhóm chỉ tiêu thị phần: Thị phần hàng hóa xuất khẩu trên thị trường thế giới, phương pháp phân tích thị phần không đổi (CMS);
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá trình độ và lợi thế thương mại: Chỉ số lợi thế so sánh biểu lộ ($RCA$), Chỉ số định hướng khu vực ($ROI$), Chỉ số thương mại nội ngành ($IIT$), Chỉ số tập trung thương mại ($TII$).
Nguồn dữ liệu sử dụng là số liệu thứ cấp thu thập từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan Việt Nam, cơ sở dữ liệu UN Comtrade của Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), và Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung tổng kết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các nhân tố tác động tới xuất khẩu hàng hóa và nông sản. Tác giả phân tích ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp định tính và định lượng (mô hình SMART, GTAP, Gravity Model). Qua việc tổng hợp kết quả nghiên cứu của các tác giả quốc tế (Sevela, Gbetnkom và Khan, Hatab, Wei, Martínez-Zarzoso) và trong nước (Từ Thúy Anh, Nguyễn Tiến Dũng, MUTRAP III), tác giả lập bảng tổng hợp xu hướng tác động của 15 biến số độc lập phổ biến đối với xuất khẩu nông sản. Chương 1 chỉ ra hai khoảng trống nghiên cứu chính: các nghiên cứu quốc tế chưa xem xét biến diện tích đất nông nghiệp trong mô hình trọng lực; các nghiên cứu trong nước còn nặng tính mô tả thực trạng, thiếu mô hình kinh tế lượng chuyên sâu cho từng mặt hàng nông sản cụ thể.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản
Chương 2 hoàn thiện khung lý luận về nông sản và xuất khẩu nông sản. Tác giả so sánh các quan điểm phân loại nông sản của WTO, FAO, EU và Việt Nam, thống nhất định nghĩa nông sản theo nghĩa hẹp là sản phẩm thu được từ tư liệu sản xuất đất đai, đồng thời xác lập danh mục phân tích theo hệ thống SITC Rev. 3 (SITC 0, 1, 2 trừ 27, 28, và 4). Chương này trình bày chi tiết tiến trình phát triển của các lý thuyết thương mại quốc tế từ lợi thế tuyệt đối (Adam Smith), lợi thế so sánh (David Ricardo), lý thuyết H-O đến lợi thế cạnh tranh quốc gia (Michael Porter). Tác giả làm rõ ba hình thức xuất khẩu và bảy vai trò kinh tế - xã hội của xuất khẩu nông sản. Dựa trên mô hình trọng lực của Tinbergen và Linnemann cùng khung phân tích ba nhóm nhân tố (cung, cầu, hấp dẫn/cản trở) của Đào Ngọc Tiến, chương 2 luận giải cơ sở lý thuyết về chiều hướng tác động của quy mô kinh tế ($GDP$), dân số ($POP$), tỷ giá ($ER$), lạm phát ($INF$), độ mở ($OPEN$), khoảng cách địa lý ($DIS$), khoảng cách kinh tế ($EDIS$) và diện tích đất nông nghiệp ($LAN$).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng hệ thống câu hỏi nghiên cứu, khung phân tích thực nghiệm và phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu. Luận án xác định các nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1997–2013 và quy trình làm sạch dữ liệu bảng. Tác giả mô tả chi tiết phương trình hồi quy mô hình trọng lực dạng logarit tự nhiên mở rộng, thiết lập bảng giả thuyết dấu kỳ vọng cho các biến giải thích. Chương này trình bày quy trình kiểm định kinh tế lượng nhằm lựa chọn giữa OLS, FEM và REM, đồng thời thuyết minh công thức tính toán các chỉ số phân tích thương mại chuyên sâu ($RCA$, $ROI$, $IIT$, $TII$, $CMS$) nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh và sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu nông sản Việt Nam.
Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm của luận án, kết hợp phân tích thực trạng và kiểm định mô hình kinh tế lượng:
- Thực trạng xuất khẩu nông sản giai đoạn 1997–2013: Luận án phân tích sự tăng trưởng kim ngạch, cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa, các thị trường đối tác chính năm 2013, và tính toán chỉ số $TII$ giữa Việt Nam với các đối tác khu vực và thế giới. Tác giả đánh giá thị phần nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới và đi sâu phân tích hai mặt hàng chủ lực:
- Xuất khẩu gạo: Sản lượng, kim ngạch, thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam so với các nước trên thế giới, chỉ số thương mại nội ngành $IIT$ trong xuất khẩu gạo giữa Việt Nam và một số quốc gia châu Á, so sánh giá gạo xuất khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan, chỉ số lợi thế so sánh $RCA$ và chỉ số định hướng khu vực $ROI$.
- Xuất khẩu cà phê: Diễn biến sản lượng, kim ngạch, so sánh sản lượng xuất khẩu giữa Việt Nam và các quốc gia cạnh tranh, biến động giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam so với Brazil và Indonesia, cùng diễn biến các chỉ số $RCA$ và $ROI$ tại các thị trường trọng điểm.
- Phân tích định tính: Đánh giá tác động của các nhân tố phi lượng hóa như cơ chế chính sách, rào cản kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), sự phát triển của khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng logistics và chuỗi giá trị toàn cầu.
- Phân tích định lượng bằng mô hình trọng lực: Luận án mô tả các biến số đưa vào hồi quy, phân tích đồ thị tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu nông sản ($EXPORT_{ijt}$) với từng biến độc lập ($GDP_{it}$, $GDP_{jt}$, tích số dân số $POP_{it} \times POP_{jt}$, tích số đất nông nghiệp $LAN_{it} \times LAN_{jt}$, $INF_{it}$, $DIS_{ij}$, $EDIS_{ijt}$, $ER$, $OPEN_{it}$). Kết quả đo lường mức độ tác động từ các bảng hồi quy cho thấy mô hình REM với sai số chuẩn mạnh mang lại kết quả ước lượng phù hợp nhất cho cả ba phương trình: nông sản tổng thể, gạo và cà phê. Các nhân tố quy mô kinh tế hai nước ($GDP_{it}$, $GDP_{jt}$), độ mở nền kinh tế ($OPEN$), và biến số mới là diện tích đất nông nghiệp ($LAN$) có tác động tích cực cùng chiều; trong khi khoảng cách địa lý ($DIS$), khoảng cách kinh tế ($EDIS$) và lạm phát ($INF$) tác động ngược chiều đến kim ngạch xuất khẩu.
- Đánh giá chung: Luận án tổng kết các thành tựu (tăng trưởng nhanh quy mô kim ngạch, khẳng định vị thế xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo và cà phê), chỉ rõ những hạn chế (chất lượng sản phẩm không đồng đều, giá trị gia tăng thấp do chủ yếu xuất khẩu thô, phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, dễ bị tổn thương trước các rào cản kỹ thuật) và phân tích nguyên nhân nội tại từ khâu sản xuất manh mún đến liên kết chuỗi giá trị.
Chương 5: Giải pháp phát huy ảnh hưởng của nhân tố có lợi, hạn chế ảnh hưởng của nhân tố bất lợi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2020
Dựa trên phân tích bối cảnh kinh tế thế giới và các cam kết hội nhập, chương 5 xác định quan điểm và mục tiêu xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2020. Tác giả đề xuất các căn cứ và nhóm giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp phát huy nhân tố có lợi: Nâng cao năng lực sản xuất và tối ưu hóa quy hoạch đất đai nông nghiệp; tận dụng độ mở kinh tế và các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường; thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tăng giá trị gia tăng;
- Nhóm giải pháp hạn chế nhân tố bất lợi: Giảm thiểu chi phí vận tải và dịch vụ logistics để hạn chế tác động tiêu cực của khoảng cách địa lý; kiểm soát chất lượng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhằm vượt qua rào cản kỹ thuật; điều hành linh hoạt chính sách tỷ giá thực và kiểm soát lạm phát.
- Kiến nghị thực thi: Luận án phân định trách nhiệm cụ thể đối với Nhà nước (hoàn thiện thể chế chính sách, chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa), đối với các Bộ, ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương trong kiểm dịch thực vật, xúc tiến thương mại) và đối với các Hiệp hội ngành hàng (kết nối doanh nghiệp, điều tiết thị trường, nâng cao năng lực đàm phán).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập bốn đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Góp phần hệ thống hóa và bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam thông qua việc xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh, kết hợp ba nhóm nhân tố: cung, cầu và cản trở/hấp dẫn;
- Là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng mô hình trọng lực với kỹ thuật dữ liệu bảng (panel data) để đánh giá định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản;
- Luận án bổ sung nhân tố mới là diện tích đất nông nghiệp vào mô hình trọng lực nghiên cứu hoạt động xuất khẩu nông sản, tạo điểm mới so với các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế trước đó;
- Chỉ ra chiều hướng và mức độ tác động cụ thể của các nhân tố tích cực (có lợi) và tiêu cực (bất lợi) đến kim ngạch xuất khẩu nông sản tổng thể, gạo và cà phê của Việt Nam giai đoạn 1997–2013. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có căn cứ khoa học nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án chủ yếu gắn liền với phạm vi dữ liệu và tính chất phức tạp của thị trường:
- Do độ trễ trong công bố số liệu thống kê thương mại chính thức từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia đối tác, chuỗi số liệu thứ cấp hoàn chỉnh phục vụ mô hình kinh tế lượng dừng lại ở năm 2013;
- Luận án tập trung đi sâu phân tích định lượng hai mặt hàng nông sản chính là gạo và cà phê, chưa mở rộng lượng hóa đối với các nông sản xuất khẩu có thế mạnh khác như hạt tiêu, hạt điều, chè, cao su hoặc rau quả;
- Không gian phân tích chuyên sâu tập trung vào khu vực ASEAN và EU, chưa bao quát chi tiết toàn bộ các thị trường tiềm năng khác.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng cập nhật chuỗi dữ liệu bảng cho các giai đoạn tiếp sau năm 2013; mở rộng kiểm định mô hình trọng lực cho các nhóm hàng nông sản xuất khẩu khác; và đưa thêm các biến số định lượng phản ánh chi tiết hơn các rào cản phi thuế quan (SPS, TBT) khi dữ liệu cho phép.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Kinh tế Quốc tế và Thương mại: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận ứng dụng mô hình trọng lực trên dữ liệu bảng (kỹ thuật Pooled OLS, FEM, REM với sai số chuẩn mạnh), cách thức đưa biến số tài nguyên đất nông nghiệp vào hàm thương mại, và phương pháp tính toán các chỉ số $RCA$, $ROI$, $IIT$, $TII$, $CMS$.
- Đối với giảng viên đại học: Công trình cung cấp hệ thống học thuyết thương mại quốc tế (Smith, Ricardo, H-O, Porter) gắn với thực tiễn nông nghiệp Việt Nam, phục vụ giảng dạy các học phần Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế quốc tế và Thương mại quốc tế.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, cơ quan quản lý xuất nhập khẩu): Luận án cung cấp các bằng chứng định lượng về tác động của tỷ giá, độ mở kinh tế, quy mô thị trường đối tác và diện tích đất đai, làm cơ sở xây dựng chính sách xuất khẩu nông sản, điều chỉnh vùng nguyên liệu và đàm phán các hiệp định thương mại.
- Đối với các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu (như Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam): Nội dung phân tích thị phần, giá xuất khẩu và chỉ số định hướng khu vực cung cấp dữ liệu phục vụ định hướng chiến lược thị trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã bổ sung biến số mới nào vào mô hình trọng lực phân tích xuất khẩu nông sản?
Luận án đã bổ sung nhân tố diện tích đất nông nghiệp của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu vào mô hình trọng lực. Đây là biến số phản ánh tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong nông nghiệp, chưa từng được các nghiên cứu kinh tế lượng thương mại nông sản trước đó đưa vào hàm hồi quy trọng lực.
2. Phạm vi thời gian và nguồn dữ liệu của luận án được xác định như thế nào?
Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1997–2013 do tính cập nhật và đầy đủ của số liệu công bố quốc tế tại thời điểm thực hiện (năm 2016), đồng thời sử dụng bổ sung số liệu 2014–2015 cho các phân tích thảo luận. Nguồn dữ liệu được trích xuất từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan Việt Nam, UN Comtrade, WB, IMF, FAO, USDA và ICO.
3. Hai mặt hàng nông sản cụ thể nào được luận án lựa chọn đi sâu nghiên cứu?
Luận án lựa chọn gạo và cà phê để đi sâu phân tích thực trạng và hồi quy định lượng riêng biệt. Đây là hai mặt hàng nông sản có lợi thế so sánh lớn ($RCA > 1$), chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cao trong nhiều năm của Việt Nam.
4. Kỹ thuật kinh tế lượng nào được luận án sử dụng để khắc phục các khuyết tật của dữ liệu bảng?
Sau khi so sánh giữa phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), luận án áp dụng mô hình REM kết hợp với kỹ thuật ước lượng sai số chuẩn mạnh (Robust Standard Errors) để xử lý hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
5. Luận án định nghĩa nông sản theo chuẩn mực phân loại thương mại nào?
Luận án định nghĩa nông sản là sản phẩm thu được từ tư liệu sản xuất đất đai (cây trồng) và sử dụng Danh mục tiêu chuẩn ngoại thương phiên bản 3 (SITC Rev. 3) gồm các nhóm SITC 0, 1, 2 và 4; trong đó loại trừ nhóm SITC 27 (phân bón thô, khoáng sản) và SITC 28 (quặng kim loại) để đảm bảo tương thích với quy định của WTO.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam" của tác giả Ngô Thị Mỹ là công trình nghiên cứu chuyên khảo có cấu trúc khoa học chặt chẽ và nhất quán. Luận án đã hệ thống hóa lý luận thương mại quốc tế, tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời giải quyết thành công khoảng trống nghiên cứu thông qua việc ứng dụng mô hình trọng lực dữ liệu bảng với sự bổ sung biến diện tích đất nông nghiệp. Các kết quả phân tích định tính và định lượng giai đoạn 1997–2013 trên ngành hàng nông sản tổng thể cùng hai mặt hàng gạo và cà phê đã cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam đến năm 2020.