Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN HOÀI ĐỨC LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hoài Đức về phát triển kinh tế nông nghiệp 1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Hoài Đức là một huyện đồng bằng nằm ở về phía Tây trung tâm thành phố Hà Nội, có vị trí địa lý: Phía Bắc giáp huyện Đan Phượng, Phúc Thọ; phía Nam giáp quận Hà Đông, huyện Chương Mỹ; phía Tây giáp huyện Quốc Oai, huyện Phúc Thọ; phía Đông giáp huyện Từ Liêm. Hoài Đức là huyện nằm trong quy hoạch phát triển, là một vành đai bao quanh phía Tây và Tây Nam Hà Nội lại liền kề với Quận Hà Đông. Với vị trí đó, địa bàn đó, Hoài Đức trở thành một cửa ngõ quan trọng, là cầu nối Thủ đô Hà Nội với nhiều miền đất nước là vùng bản lề giữa đồng bằng với miền núi. Với lợi thế nằm trong khu tam giác trọng điểm phía Bắc lại có hệ thống đường giao thông thuận lợi và hiện đại nối với vùng trung tâm Hà Nội cũng như toả đi các tỉnh phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung nên Hoài Đức là địa chỉ hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước.
Địa hình Hoài Đức nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng và sông Đáy; địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông được phân làm 2 vùng tự nhiên rõ rệt là vùng Bãi ven sông Đáy và vùng đồng được phân định bởi đê Tả sông Đáy. - Vùng bãi: Thuộc địa bàn của 10 xã: Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Yên Sở, Đắc Sở, Tiền Yên, Song Phương, An Thượng, Đông La và Vân 7 z Côn (trong đó có Vân Côn nằm trọn vẹn trong vũng bãi), địa hình vùng này do ảnh hưởng bồi lắng của phù sa sông Đáy nên địa hình có những vùng trũng xen lẫn vùng cao do đó thường gây úng, hạn cục bộ. Cao độ mặt ruộng trung bình từ 6,5 - 9,0 m có xu hướng dốc từ đê ra sông, - Vùng đồng: Có 10 xã, thị trấn nằm trọn trong vùng đồng gồm: Thị trấn Trạm Trôi, xã Đức Thượng, Đức Giang, Kim Chung, Di Trạch, Vân Canh, Sơn Đồng, Lại Yên, An Khánh, La Phù, vùng nội đồng có địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ mặt ruộng trung bình từ 4,0 - 8,0m, vùng trũng xen lẫn vùng cao. Đặc điểm địa hình này cho phép Hoài Đức có thể xây dựng một nền kinh tế tổng hợp với sản xuất nông nghiệp mang tính hàng hóa phục vụ cho một vùng đô thị lớn trong nội thành tại vùng bãi.
Phát triển công nghiệp dịch vụ và phát triển các khu đô thị tại vùng đồng trong tương lai. Khí hậu Nằm trong vùng đồng bằng bắc bộ, huyện Hoài Đức có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hè và mùa đông khô lạnh (đầu mùa đông hanh khô, cuối mùa đông ẩm ướt). Nhiệt độ trung bình vào mùa hè khoảng trên 230C, mùa đông từ 15 -160C. Chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên dao động nhiệt độ trong năm của Hoài Đức khá lớn với biên độ giao động từ 12 - 130C.
Mùa nóng từ tháng 5 - 9 với nhiệt độ nóng nhất trung bình trên 300C, cao nhất lên tới trên 370C, mùa lạnh kéo dài khoảng 3-4 tháng (12-2 hoặc 3) tháng lạnh nhất (tháng 12,1) nhiệt độ xuống thấp <180C, thấp nhất là 50C, giữa mùa nóng và mùa lạnh có thời kỳ chuyển tiếp tạo cho Hoài Đức thời tiết 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Độ ẩm không khí trung bình trong năm khoảng 83- 85%, tháng ẩm nhất là tháng 3, 4 với độ ẩm lên tới 98%. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng: 1600 – 1800 mm. 8 z Thủy văn Trên địa bàn huyện Hoài Đức có sông Đáy chảy qua, đây là phân lưu của sông Hồng, lưu vực đoạn sông chảy qua huyện có tổng chiều dài khoảng 23km.
Lòng dẫn chảy tràn giữa 2 đê (tả Đáy và hữu Đáy), khoảng cách từ lòng sông vào đê trung bình 1,8km, đoạn sông rộng nhất thuộc xã Vân Côn, khoảng 3,9km. Vào mùa kiệt đoạn chảy qua huyện Hoài Đức dòng chảy rất nhỏ, chỉ có nước hồi quy từ các kênh tiêu thuộc huyện Phúc Thọ, Thạch Thất và Quốc Oai. Vào mùa mưa, với tần suất xuất hiện đỉnh lũ của sông Đáy, tại vùng Hoài Đức chỉ ngập lòng sông, còn trên bãi ảnh hưởng không đáng kể. Tài nguyên và môi trường Tài nguyên khoáng sản Huyện Hoài Đức là khu vực khan hiếm tài nguyên khoáng sản.
Hiện nay vẫn chưa xác định được có nguồn tài nguyên khoáng sản gì ngoài cát ven sông Đáy song trữ lượng không nhiều và chất lượng không cao. Tài nguyên nước - Nước mặt: Ngoài nguồn nước mưa hàng năm, Hoài Đức được sông Hồng ở phía Bắc cung cấp nước qua hệ thống thủy nông Đan Hoài, nước của sông Đáy chạy dọc theo vùng bãi từ Minh Khai đến Đông La. Ngoài ra trên địa bàn huyện Hoài Đức còn có hệ thống ao hồ nằm xen kẽ trong khu dân cư với diện tích khoảng 56ha. - Nước ngầm: Nằm trong vùng trầm tích châu thổ sông Hồng nên về mặt địa chất thủy văn mang rõ nét tính chất của vùng châu thổ sông Hồng.
Trong mấy năm trở lại đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, mực nước sông Hồng cũng cạn nhiều do đó cũng ảnh hưởng tới nguồn nước ngầm của Hoài Đức. 9 z - Nước mưa: với lượng nước mưa trung bình 1.800mm trong năm, mặc dù lượng nước bốc hơi hàng năm bằng 65% so với lượng mưa nhưng đây vẫn là nguồn nước bổ sung cho các ao, hồ đầm và cho các sinh hoạt khác của nhân dân. Môi trường sinh thái của Hoài Đức nhìn chung đang là vấn đề nhức nhối. Với đặc thù của huyện công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh, dân số đông, nhiều làng nghề chế biến nông sản, hệ thống kênh tiêu T2 vùng đồng và sông Đáy vùng bãi là hai hệ thống tiêu thoát nước chính của Hoài Đức song dòng chảy ngày càng thu hẹp, ách tắc nên việc tiêu thoát nước vùng đồng kém.
Rác thải dân cư ngày càng nhiều và ô nhiễm từ chất thải các lang nghề chế biến làm cho không khí và môi trường tại đây đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân tại làng nghề và dân cư quanh các khu vực này. Nguồn lực đất đai Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Hoài Đức hiện nay là 8.246,77 ha, với địa hình đồng bằng. Là địa phương nằm trong vùng châu thổ sông Hồng nên chất đất chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất có độ phì khá cao, tầng đất dày nên có thể bố trí trồng nhiều loại cây ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và cây ăn quả.246,77 ha đất, diện tích đất nông nghiệp 4.272,12 ha; chiếm 51,81% tổng diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 3.917,35 ha; chiếm 47,5% diện tích tự nhiên, còn lại một diện tích rất nhỏ khoảng 57,3 ha là đất chưa sử dụng. Đất nông nghiệp: Với diện tích 4.272,12 ha, đất nông nghiệp của Hoài Đức được chi làm hai vùng (vùng bãi sông Đáy và vùng đồng), trong đó: +Vùng đồng: Chủ yếu được sử dụng để trồng lúa, cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản.
Quá trình đô thị hoá đang được đẩy mạnh trên địa bàn huyện do vậy diện tích đất vùng đồng mấy năm trở lại đây bị chuyển đổi mục 10 z đích sử dụng rất nhiều theo dự tính đến năm 2015 sẽ chỉ còn khoảng 2100 ha đất nông nghiệp mà chủ yếu là vùng bãi. +Vùng bãi sông Đáy: Chủ yếu được sử dụng để trồng rau, màu, cây công nghiệp và cây ăn quả. Đất phi nông nghiệp: Có thể thấy rằng quỹ đất này của Hoài Đức là tương đối lớn, chiếm khoảng gần 50% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện. Hiện tại diện tích này đã được khai thác chủ yếu cho các công trình hạ tầng văn hóa xã hội và công trình phát triển kinh tế.
Diện tích đất chưa sử dụng hiện nay chỉ còn khoảng 57,3 ha. Do đó quỹ đất này không còn nhiều cho việc sử dụng trong quy hoạch xây dựng các cơ sở hạ tầng theo đúng yêu cầu về quy mô của đô thị hiện đại. Như vậy, xét về quỹ đất Hoài Đức là huyện có diện tích không lớn (chỉ chiếm có 2,4% tổng quỹ đất của thành phố Hà Nội) thêm vào đó diện tích đất chưa sử dụng hiện tại còn rất ít do đó việc phát triển Hoài Đức thành một khu đô thị hiện tại trong tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn và đòi hỏi phải khai thác sử dụng một cách có hiệu quả. Điều kiện xã hội Dân cư Dân số huyện Hoài Đức năm 2011 khoảng trên 193 nghìn người, mật độ dân số khoảng 23,3 người/ha, cao hơn mật độ của Hà Nội (19,7 người/ha) và cao hơn so với mật độ dân số trung bình của vùng đồng bằng sông Hồng (khoảng 9,3 người/ha) và cả nước (2,59 người/ha).
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay dân số huyện Hoài Đức tăng bình quân khoảng 2,5% năm, dân số đô thị của huyện có mức tăng khá cao, đạt 5,25%/ năm. Hiện nay cơ cấu dân số chủ yếu vẫn là nông thôn (93% dân số). 11 z Nguồn lao động Năm 2008, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 52,97% (92.627 người), trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế có 90,81 nghìn người với tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm khoảng 50% tổng số lao động trong các ngành. Về chất lượng của nguồn lao động: nhìn chung nguồn lao động của Hoài Đức có chất lượng khá.
Huyện Hoài Đức có điểm thuận lợi trong giải quyết việc làm đó là có nhiều làng nghề, ngành nghề truyền thống (năm 2008 Hoài Đức có 12 làng nghề và thành lập 6 hiệp hội ngành nghề ở các làng nghề, hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 8000 - 9000 người lao động). Lực lượng lao động làm trong làng nghề được đào tạo thông qua sự truyền dạy của lớp người đi trước. Số người lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp bị mất đất sản xuất chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng tương đối lớn; lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng nhỏ và tập trung vào đội ngũ công chức cấp xã, huyện và viên chức các ngành giáo dục, y tế. Truyền thống lịch sử Hoài Đức là một huyện anh hùng, có bề dày lịch sử lâu đời và truyền thống cách mạng, là nơi hội tụ nhiều danh nhân văn hóa, quê hương có phong tục tập quán phong phú.