CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỢ CẤP VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ TRỢ CẤP TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 1. Lý luận chung về trợ cấp 1. Khái niệm trợ cấp Trợ cấp là một công cụ chính sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chính phủ về kinh tế - xã hội - chính trị, v.Tuy vậy, việc đi đến một khái niệm tương đối chính xác và thống nhất về “trợ cấp” là một chủ đề gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả (Lê Tuyết Anh 2013, tr. 21) Tùy theo mục đích mà định nghĩa trợ cấp có thể rộng hay hẹp.
Chẳng hạn, định nghĩa rất hẹp về trợ cấp có thể chỉ bao gồm mỗi biện pháp cấp tiền trực tiếp cho một ngành hoặc một số doanh nghiệp cụ thể. Nhược điểm của định nghĩa này là bỏ qua nhiều biện pháp trợ cấp khác có ảnh hưởng về mặt kinh tế tương đương với biện pháp cấp tiền trực tiếp này. Do đó, có thể gây khó khăn hoặc nhầm lẫn trong việc so sánh mức trợ cấp giữa các nước khác nhau. Tuy nhiên, định nghĩa rộng hơn về trợ cấp lại cũng có những điểm yếu riêng như bao trùm cả ảnh hưởng do các hoạt động của Chính phủ vào phạm vi định nghĩa, dẫn tới việc đánh đồng nhiều hoạt động của chính phủ cũng mang tính chất của một biện pháp trợ cấp.
Ví dụ như bảo hiểm thất nghiệp có thể bị coi là trợ cấp gián tiếp cho một số ngành nghề nhất định mang tính thời vụ hoặc chu kỳ. Hay chi phí của chính phủ cho các hàng hóa công cộng như tư pháp, an ninh, giáo dục, đường sá, quốc phòng,. cũng có thể bị xem là trợ cấp. Theo định nghĩa của Từ điển Oxford dành cho giới kinh doanh (nhà xuất bản Đại học Oxford 1994), “trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa ế và tránh tạo ra thất nghiệp,v.
Nhìn chung, trợ cấp gây bóp méo thương mại quốc tế và không phổ biến nhưng đôi khi vẫn được các chính phủ sử dụng để giúp tạo dựng một ngành sản xuất mới trong nước”. (Lê Tuyết Anh 2013, tr. 21) Luan van 7 Như vậy trợ cấp của Chính phủ là một công cụ trực tiếp tái phân phối nguồn thu ngân sách của chính phủ cho một số đối tượng. Trợ cấp có thể dưới dạng cho vay, xóa nợ, hoàn hoặc miễn thuế.
Trong một số trường hợp khác, chính phủ không nhất thiết phải trích từ nguồn ngân sách của mình để trợ cấp mà có thể thông qua công cụ luật pháp để hướng nguồn lực từ nhóm đối tượng này chuyển sang cho nhóm đối tượng khác, cụ thể ở đây là làm lợi cho nhà sản xuất bằng tiền từ túi người tiêu dùng thông qua việc hỗ trợ giá. Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất: - Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay); - Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng); - Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm. Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại v.v bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường). Phân loại trợ cấp 1.Trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp: Dưới góc độ lĩnh vực kinh tế, người ta chia trợ cấp thành trợ cấp nông nghiệp và trợ cấp phi nông nghiệp.
Theo cách hiểu thông thường, trợ cấp nông nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm nông nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Ví dụ: trợ cấp nghiên cứu giống cây, giống con; trợ cấp cho nông dân trồng lúa, trợ cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp; thưởng theo kim ngạch xuất khẩu nông sản; áp dụng cước phí vận tải ưu đăi với nông sản xuất khẩu; v. (Trần Ngọc Ca 2006, tr. 27) Luan van 8 Trợ cấp công nghiệp là trợ cấp dành cho các sản phẩm công nghiệp và cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp.
Ví dụ: thuế nhập khẩu ưu đãi với sản phẩm cơ khí thực hiện chương trình nội địa hóa; áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi với các dự án phát triển sản phẩm công nghiệp trọng điểm v. Các hiệp định của WTO cũng tạm chia ra điều chỉnh trợ cấp theo: trợ cấp nông nghiệp (gồm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông sản), trợ cấp phi nông sản. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) tạm thời được hiểu là chỉ điều chỉnh về trợ cấp phi nông sản (tức là các sản phẩm ngoài phạm vi Hiệp định nông nghiệp) ( Nguyễn Ngọc An 2012, tr. Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu Dưới góc độ thương mại quốc tế thì trợ cấp chia thành hai loại: Trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu.
Trợ cấp trong nước được hiểu là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá trước tiên hoặc chủ yếu là để phục vụ thị trường trong nước, hay nói cách khác, hàng hoá được trợ cấp phải là hàng hoá được tiêu thụ tại thị trường nội địa của nhả sản xuất. Doanh nghiệp được trợ cấp không nhất thiết phải là doanh nghiệp 100 % vốn trong nước. Ví dụ chính phủ cung ứng điện với giá thấp cho ngành sản xuất phân bón trong nước (gồm cả DN 100 % vốn trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghệp liên doanh). Tuy nhiên, trợ cấp trong nước có thể có tác động gián tiếp tới hoạt động xuất khẩu nếu sản phẩm do doanh nghiệp nhận trợ cấp sản xuất ra cuối cùng lại được xuất khẩu.
Trong trường hợp đó, trợ cấp trong nước của một nước sẽ được nhìn nhận như một dạng “trợ cấp xuất khẩu” dưới góc độ của nước nhập khẩu hàng hoá được trợ cấp. Như vậy, tuy rằng mục đích thực chất ban đầu của trợ cấp này không nhằm khuyến khích xuất khẩu nhưng ảnh hưởng hay tác động của trợ cấp đối với những sản phẩm được xuất khẩu lại giống với trợ cấp xuất khẩu và do vậy mà có thể bị các nước nhập khẩu đánh thuế chống trợ cấp. (Lê Tuyết Anh 2013, tr. 21) Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnh sản xuất.
Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hoá xuất khẩu thực sự Luan van 9 hoặc dự kiến xuất khẩu. Ví dụ: chương trình thưởng xuất khẩu của chính phủ theo đó doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được. Tuy nhiên, việc chính phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu không thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đến một số yếu tố khác. Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu.
( Nguyễn Thị Hải Yến 2008, tr. Trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng và trợ cấp không thể đối kháng Thứ nhất là trợ cấp bị cấm Trợ cấp bị cấm gồm những khoản trợ cấp sau: khối lượng trợ cấp, theo luật hoặc trong thực tế, dù là một điều kiện cá biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả xuất khẩu; khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện cá biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại. Trợ cấp bị cấm là đối tượng của những vụ kiện giải quyết tranh chấp. Điểm nổi bật là lịch trình giải quyết của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) nhanh gọn, và nếu cơ quan này nhận thấy rằng khoản trợ cấp này là trợ cấp bị cấm, ngay lập tức phải thu hồi lệnh trợ cấp.
Nếu phán quyết không được thực hiện trong thời gian quy định, thành viên khiếu nại được quyền áp dụng các biện pháp trả đũa (Lê Tuyết Anh 2013, tr. Như vậy, tóm lại trợ cấp bị cấm bao gồm: + Trợ cấp xuất khẩu (trợ cấp căn cứ vào kết quả xuất khẩu, ví dụ thưởng xuất khẩu, trợ cấp nguyên liệu đầu vào để xuất khẩu, miễn thuế/giảm thuế cao hơn mức mà sản phẩm tương tự bán trong nước được hưởng, ưu đãi bảo hiểm xuất khẩu, ưu đãi tín dụng xuất khẩu v.v); hoặc + Trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu Đây là những hình thức trợ cấp mà hiện tất cả các thành viên WTO đều bị cấm áp dụng. Thứ hai, là trợ cấp có thể đối kháng. Hiệp định quy định rằng không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng trợ cấp gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay gây phương Luan van 10 hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) 1994 (đặc biệt là những quyền lợi có được từ những ưu đãi thuế quan có ràng buộc), và gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích của Thành viên khác.
“Thiệt hại nghiêm trọng” sẽ được xem là tồn tại trong trường hợp tổng trị giá trợ cấp theo trị giá cho một sản phẩm vượt quá 5%. Trong trường hợp này, bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những khoản trợ cấp đó không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với bên khiếu nại. Những thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi trợ cấp có thể đối kháng có thể đưa tranh chấp này lên cơ quan giải quyết tranh chấp.