lời mở đầu, kết luận và tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển Nông nghiệp của huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. - Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển Nông nghiệp huyện huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu ngoài nước Việc nghiên cứu về phát triển kinh tế trong đó có phát triển về nông nghiệp đã đƣợc các nhà kinh tế học trên thế giới nghiên cứu rất tổng quát và có ý nghĩa quan trọng.
David Ricardo (1772-1823) cho rằng đất đai nông nghiệp là nguồn gốc của sự tăng trƣởng kinh tế. Từ đó ông lập luận rằng: (1) Giới hạn của đất đai làm cho lợi nhuận ngƣời sản xuất có xu hƣớng giảm dần. Do đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp nhƣng đất đai thì có giới hạn. Ví nhƣ sự gia tăng nhanh nhu cầu sản phẩm nông nghiệp so với khả năng ngành nông nghiệp.
Giá cả nông sản sẽ cao hơn. Nông dân mở rộng sản xuất và sẽ tiến hành canh tác trên những v ng đất mới nhìn chung ít màu mỡ hơn những v ng đất đã đƣa vào canh tác. Chính điều này làm cho chi phí sản xuất và chi phí sản xuất trung bình tăng lên, do đó lợi nhuận thu đƣợc của ngƣời sản xuất trong nông nghiệp sẽ giảm [37]. Do chi phí sản xuất trong nông nghiệp tăng kéo theo giá cả lƣơng thực thực phẩm tăng làm thu nhập thực tế của ngƣời lao động trong khu vực công nghiệp giảm tƣơng đối.
Để đảm bảo cuộc sống cho họ thì tiền lƣơng danh nghĩa phải tăng và do đó lợi nhuận trong khu vực công nghiệp này sẽ giảm. Lợi nhuận là nguồn gốc để tích lũy đầu tƣ mở rộng sản xuất tạo ra tăng trƣởng. Khi lợi nhuận giảm sẽ hạn chế sự gia tăng của sản lƣợng. Hay giới hạn của đất đai làm cho lợi nhuận của cả ngƣời sản xuất nông nghiệp và công nghiệp có xu hƣớng giảm dần và ảnh hƣởng tới tăng trƣởng kinh tế.
(2) Giới hạn của đất đai làm cho năng suất lao động nông nghiệp thấp. Do đất đai có giới hạn, trong khi dân số nông thôn tăng nhanh dẫn tới tình trạng dƣ thừa lao động trong nông nghiệp. Một mặt phải khai thác cả đất kém màu mỡ để canh tác, mặt khác sử dụng lao động nhiều hơn trong khi hiệu suất Luan van 5 sử dụng lao động thấp hơn sẽ kéo theo năng suất lao động giảm và chi phí biên cao hơn. Điều đó ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế [37].
Theo Lewis (1954) nhà kinh tế học thuộc trƣờng phải Tân Cổ Điển và Oshima thì nguồn gốc của tăng trƣởng kinh tế chính là khả năng thu hút lao động của công nghiệp từ khu vực nông nghiệp, khi lao động chuyển từ khu vực có năng suất thấp - khu vực nông nghiệp sang khu vực có năng suất cao khu vực công nghiệp tạo ra sản lƣợng nhiều hơn. Lewis cho rằng do trong khu vực nông nghiệp đất đai có giới hạn nên khan hiếm, trong khi dân số và lao động tăng nhanh. Lao động trong nông nghiệp dƣ thừa và thiếu việc làm. Dẫn đến những hậu quả sau: - Sản phẩm biên của lao động nông nghiệp giảm dần tới không; - Mức lƣơng bằng mức tối thiểu chung; - Cầu lao động giảm nhƣng không ảnh hƣởng tới sản lƣợng nông nghiệp.
Do tiền lƣơng của khu vực công nghiệp cao hơn ở khu vực nông nghiệp đã hấp dẫn và thu hút lao động dƣ thừa từ khu vực nông nghiệp. Nhƣ vậy, quá trình tăng trƣởng kinh tế đƣợc tạo ra từ sự tăng trƣởng công nghiệp thông qua tích lũy vốn từ thu hút lao động dƣ thừa của khu vực nông nghiệp [30]. Các nhà kinh tế theo trƣờng phái Tân Cổ Điển cho rằng dƣới tác động của khoa học công nghệ chất lƣợng ruộng đất không ngừng đƣợc nâng cao. Khi thu hút lao động dƣ thừa từ nông nghiệp thì tiền lƣơng sẽ tăng.
Nguyên nhân chủ yếu là do tổng sản phẩm của nông nghiệp giảm, cung thấp hơn cầu, giá nông sản phẩm tăng và tiền lƣơng trong khu vực nông nghiệp tăng. Nhƣ vậy khu vực công nghiệp sẽ bất lợi trong quá trình thực hiện tăng trƣởng thông thu hút lao động từ nông nghiệp. Để khắc phục tình trạng này các nhà kinh tế thuộc trƣờng phái này cho rằng: - Đầu tƣ cho nông nghiệp ngay từ đầu để nâng cao năng suất lao động nhằm giảm áp lực lên giá lƣơng thực, thực phẩm; Luan van 6 Đầu tƣ cho cả công nghiệp theo chiều sâu để giảm cầu lao động.Oshima thì: (1) Khi vực nông nghiệp có dƣ thừa lao động nhƣng chỉ là lúc thời vụ không căng thẳng; (2) Đầu tƣ theo chiều sâu cho cả công nghiệp và nông nghiệp không khả thi vì nguồn lực và trình độ lao động có hạn đối với các nƣớc đang phát triển. Để giải quyết vấn đề này, cần phát triển theo nhiều giai đoạn để đảm bảo nguồn lực và trình độ của các nƣớc đang phát triển.
Bắt đầu phát triển nông nghiệp theo chiều rộng để thu hút lao động dƣ thừa và tạo ra nhiều sản lƣợng để tích lũy. Giai đoạn tiếp theo phát triển cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng thu hút lao động, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, áp đụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp tăng sản lƣợng. Bên cạnh đó phát triển công nghiệp chế biến và cung cấp đầu vào cho nông nghiệp. Nhƣ vậy, nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển và ngƣợc lại.
Giai đoạn cuối tất cả các ngành kinh tế phát triền theo chiều sâu. Nghiên cứu trong nước Trong thời gian qua các nhà khoa học trong nƣớc có rất nhiều đề tài, bài viết nghiên cứu về nông nghiệp nhƣ: Nguyễn Sinh Cúc (2003), Đặng Kim Sơn (2001) khẳng định nông nghiệp là ngành bảo đảm an ninh lƣơng thực cho đất nƣớc, tạo ra thu nhập và việc làm cho đại bộ phận lao động, cung cấp đầu vào cho công nghiệp, tạo ra tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, là thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp [5] [19]. Nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2003) cho rằng, nông nghiệp có các đặc điểm là: Nông nghiệp có đối tƣợng sản xuất là những cây trồng và vật nuôi (chúng là các sinh vật); Ruộng đất sử dụng trong nông nghiệp đƣợc coi là tƣ liệu sản xuất đặc biệt; Hoạt động của lao động và tƣ liệu sản xuất trong nông Luan van 7 nghiệp có tính thời vụ; Nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn nhƣng lại mang tính khu vực [12]. Nghiên cứu của Hoàng Thị Chính (2010) khẳng định nội dung phát triển nông nghiệp là sự gia tăng sản lƣợng lƣơng thực thực phẩm thông qua chỉ tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp.
Các nghiên cứu khác chỉ ra sự tăng lên về chất trong sản xuất nông nghiệp đó là năng suất của các ngành, các sản phẩm chủ yếu trong nông nghiệp, sự phát triển các ngành trong nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Việc huy động và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất cho sự phát triển của nông nghiệp [7]. Nguyễn Trần Trọng (2012) trong bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đã đề cập đến phƣơng pháp tiếp cận phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam dƣới góc độ thị trƣờng. Tác giả đã đƣa ra những định hƣớng chủ yếu phát triển nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2020 gồm: Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hƣớng kinh tế thị trƣờng, từng bƣớc chuyển các đơn vị, ngành, v ng nông nghiệp có căn bản tự cấp, tự túc ở các tỉnh miền núi, v ng dân tộc ít ngƣời lên sản xuất hàng hóa, xây dựng các v ng sản xuất nông sản xuất khẩu tập trung; tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản; hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hƣớng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng v ng sản xuất nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, xây dựng các v ng nguyên liệu vững chắc, nâng cao chất lƣợng sản phẩm chế biến; xây dựng các hình thức kinh tế ph hợp trong nông nghiệp; thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp; bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong nông nghiệp theo hƣớng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch [22].
Luan van 8 Xét trên phƣơng diện nghiên cứu về phát triển nông nghiệp địa phƣơng ở cấp tỉnh, cấp cấp huyện có rất nhiều đề tài nghiên cứu nhƣ: Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế “Phát triển nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh theo hƣớng bền vững trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới” (2008) của tác giả Trần Quang Hƣng (2008). Nội dung của đề tài hệ thống hoá lý thuyết về phát triển nông nghiệp đô thị bền vững và phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài đã đƣa ra giải pháp Nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng cần phải nhất thống và quyết tâm trong việc quy hoạch các vùng kinh tế, chính sách phải cụ thể đến từng vùng và từng ngƣời dân. Đẩy nhanh và khuyến khích ngƣời dân ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất và bảo quản sản phẩm.
Tăng cƣờng công tác khuyến nông, hƣớng dẫn kỹ thuật nhằm giúp nông dân có điều kiện giảm giá thành và mang lại lợi nhuận khá, đảm bảo một tỷ lệ an toàn về lợi nhuận. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hƣớng có giá trị kinh tế cao và phù hợp với nhu cầu thị trƣờng thay thế cho các giống cũ kém hiệu quả, khai thác hiệu quả diện tích đất nông nghiệp, tăng năng suất và thu nhập cho nông dân…[10]. Để tạo đầu ra ổn định cho nông sản tác giả đƣa ra giải pháp: - Tăng cƣờng liên kết sản xuất nông nghiệp với các nhà máy chế biến để kéo dài thời vụ và tăng giá trị sản phẩm. - Liên kết sản xuất - kinh doanh với các chợ đầu mối, siêu thị, các công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu,… để tạo nguồn tiêu thụ ổn định và lâu dài.
Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế “Giải pháp phát triển nông nghiệp ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Hồng Đức. Nội dung của đề tài vừa hệ thống hoá kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp một số nƣớc trên thế giới và phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Việt Yên.