Chương I đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá, những mặt hàng thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp) và một số sản phẩm thuộc các chương khác thuộc nhóm hàng nông sản. Với quy định này, có thể hiểu rằng nông sản bao gồm một nhiều loại hàng hóa đa dạng có nguồn gốc từ các hoạt động trong canh tác, sản xuất nông nghiệp như: các sản phẩm trong canh tác (gạo, sữa, rau, trái cây sạch, động vật sống.); các sản phẩm phái sinh (thịt, bơ, bánh mỳ,.); các sản phẩm được làm ra từ nguyên liệu nông nghiệp (kem, sản phẩm từ thịt, sữa, thuốc lá, nước ngọt). Tóm lại, Nông sản bao gồm hàng hóa có nguồn gốc từ những hoạt động trong canh tác, sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, thủy hải sản như: lúa, ngô, khoai, rau, vịt, gà, bò [18]. * Xuất khẩu hàng nông sản Theo David W.Pearce định nghĩa: Nông sản xuất khẩu (Agricultural export) là các sản phẩm nông nghiệp sơ cấp, chúng được sử dụng là mặt hàng để xuất khẩu chứ không phải cho mục đích tự cung tự cấp hay giao dịch trong nước [1].
n 6 Dựa theo Điều 28, mục 1, chương 2 luật Thương mại Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khác: Xuất khẩu hàng nông sản (XKHNS) là hoạt động đưa các mặt hàng nông sản ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.[12] * Đặc điểm của xuất khẩu hàng nông sản So với việc xuất khẩu các hàng hóa thuộc ngành công nghiệp, chế tạo… thì hoạt động XKHNS cũng có nhiều khác biệt: Thứ nhất, những thực phẩm thuộc ngành nông nghiệp thường bị tác động bởi yếu tố thời tiết và môi trường như dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chất. Mỗi mặt hàng nông sản đều có những đặc đặc điểm riêng, chúng phù hợp với từng địa phương, và từng yếu tố đất đai, thời tiết, khí hậu ở từng vùng. Do đó, XKHNS cũng cần phải tính toán cả về thời gian thu mua - bán hàng, về điều kiện bảo quản, chế biến. Thứ hai, XKHNS là lĩnh vực quan trọng, mang tính nhạy cảm cao và thường gặp các hàng rào bảo hộ thuế quan.
Thực tế, tất cả các nước đều muốn bảo vệ ngành nông nghiệp quốc gia cũng như đời sống thu nhập của nông dân nên chính phủ thường ban hành nhiều chính sách có lợi cho người dân và doanh nghiệp nước mình, tuy nhiên nó lại cản trở đối với các nước XKHNS. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện vừa xuất và vừa nhập khẩu hàng nông sản vì có nhiều sản phẩm họ không thể tự sản xuất do điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng. Thứ Ba, xem xét hoạt động XKHNS theo chuỗi giá trị. Từ sản xuất đến xuất khẩu bao gồm ba khâu chính: sản xuất nông sản, thu mua nguyên vật liệu, sản xuất ra sản phẩm, và cuối cùng là xuất khẩu.
Đây là một chuỗi giá trị, chúng liên quan và tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi một khâu đều mang những đặc điểm riêng biệt. Xuất khẩu (tiêu thụ) là khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị này. Đây là khâu sẽ mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong chuỗi sản xuất.
XKHNS diễn ra theo quy luật của thị trường là tự do, bình đẳng. n 7 Thứ tư, hoạt động XKHNS bao gồm nhiều công ty, quốc gia cùng tham gia. Mỗi công ty, quốc gia có thể tự hoàn tất các khâu trong chuỗi giá trị hàng XKHNS, từ sản xuất, chế biến, đến XKHNS, hoặc chỉ một phần. Quyết định này phụ thuộc vào khả năng, tài nguyên mà mỗi công ty, quốc gia sở hữu.
Những nước có lợi thế trong hoạt động XKHNS không phụ thuộc vào việc nước đó đã XKHNS nhiều năm hay không mà nó phụ thuộc vào sự hữu ích mà nó mang lại cho con người. Ngoài ra, XKHNS cũng phụ thuộc vào thương hiệu, và thông tin thị trường hàng NSXK mà họ có. Thứ năm, hoạt động XKHNS luôn chịu tác động của thị trường thế giới. Khi các quốc gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do, tham gia các khối kinh tế, họ sẽ có được những lợi thế nhất định về hoạt động XKHNS.
Ngoài ra, các thay đổi về lượng cung và cầu, thủ tục hải quan, thuế của nước nhập khẩu, đều ảnh hưởng đến hoạt động XKHNS. Điều này đòi hỏi các nước phải có nguồn nhân lực, máy móc tốt để dự báo biến động thị trường, hiểu rõ thông tin về cơ chế, quy định, chính sách về quản lý hoạt động XKHNS để thích nghi nhanh chóng với sự thay của thị trường thế giới. Vai trò của xuất khẩu hàng nông sản XKHNS là một hoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng, tác động đến nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế: nông dân, doanh nghiệp XKHNS, các trung gian và cả nền kinh tế. Cụ thể trên các mặt như sau: Một là, hoạt động XKHNS tăng thu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.
XKHNS góp phần quan trọng vào việc tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động nhập khẩu của Việt Nam. Trong thời kỳ này, muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, các quốc gia cần phải có lượng vốn đủ lớn để mua sắm vật dụng phục vụ cho sản xuất như máy móc, công nghệ khoa học, kỹ thuật tiên tiến. Lượng ngoại tệ có được từ mặt hàng XKHNS có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua sắm trang thiết bị, máy của Nhà nước. Ngoài ra, XKHNS là nhân tố quan trọng trong việc Việt Nam trong nhiều năm có cán cân thương mại xuất siêu sau nhiều năm nhập siêu, làm giảm sự n 8 khan hiếm ngoại tệ cho nền kinh tế.
Lượng ngoại tệ thu được từ XKHNS là một nguồn quan trọng cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Hai là, XKHNS có vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, sản xuất nông nghiệp chiếm thị phần lớn trong cơ cấu kinh tế đất nước; XKHNS góp phần gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, đóng góp vào GDP nông nghiệp. Thêm vào đó, người dân sống ở nông thôn chiếm tỷ lệ lớn và kinh tế của họ đều từ sản xuất nông nghiệp.
Khi XKHNS phát triển, một nhóm người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ dần chuyển hướng sang các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại dịch vụ, chế biến NSXK, các mặt hàng thủ công. XKHNS có vai trò quan trọng trong cải thiện thu nhập của nông dân, hộ gia đình và đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước. Ngoài ra, hoạt động này cũng giúp đảm bảo an ninh lương thực, hạn chế những rủi ro, thiệt hại cho nông dân do biến động của thị trường và những diễn biến bất thường của thiên tai, dịch bệnh… Hơn nữa, XKHNS còn thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển nông nghiệp, nó còn là xương sống cho sự hình thành của thị trường trao đổi hàng hóa nông sản. Từ đó, người nông dân sẽ mở rộng các hoạt động khai thác, sản xuất các nguồn tài nguyên chưa được sử dụng nhằm mở rộng thị trường cũng như làm thúc đẩy hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu.
XKHNS cũng tác động mạnh mẽ tới việc chuyển từ sản xuất nông nghiệp dựa trên khai thác nguồn tài nguyên tự nhiên sang việc sản xuất nông nghiệp chủ động gắn với phát triển của khoa học kỹ thuật. Khi sản phẩm nông nghiệp gắn với công nghệ và chuỗi giá trị, sẽ tạo ra được GTGT cao hơn. Do đó, XKHNS góp phần nâng cao chất lượng, giá trị nông sản. Ba là, XKHNS có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân.
Việt Nam là một nước với hơn 60% dân số làm nghề nông. XKHNS là tiền đề để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân. Trong những năm gần đây, sản xuất hàng NSXK đã tạo việc làm cho nhiều lao động ở các vùng n 9 nghèo khó, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân và giảm bớt sự gia tăng các tệ nạn xã hội ở nông thôn. XKHNS hướng vào việc đáp ứng nhu cầu rộng lớn của thị trường thế giới nên thúc đẩy tăng quy mô sản xuất, tăng sản lượng nông sản.
Cấu trúc cây trồng đã có thay đổi theo nhu cầu của thị trường, đặc biệt là những nông sản tiềm năng xuất khẩu. Hàng hóa NSXK đang dần chiếm lĩnh thị trường thế giới khi mà nhiều sản phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp đã chiếm được thị phần lớn về cả khối lượng và giá trị như nông sản sạch: chè, tiêu, gạo….Thị phần của hàng NSXK chiếm khoảng 30 - 35% tổng khối lượng hàng nông sản. Không những người nông dân trực tiếp sản xuất có điều kiện tăng thu nhập, cải thiện đời sống, mà những người nông dân cung cấp các dịch vụ liên quan như phục vụ gieo trồng, thu hoạch, vận tải, kho bãi cũng có điều kiện có việc làm, tăng thu nhập. Bốn là, XKHNS góp phẩn làm tăng năng lực sản xuất của quốc gia.
XKHNS được coi như yếu tố thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Thông qua XKHNS, vốn, kỹ thuật, công nghệ của thế giới sẽ được chuyển giao và áp dụng vào trong nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua tăng chất lượng sản xuất của quốc gia. XKHNS phát triển tốt sẽ đưa các ngành khác cùng đi lên. Ví dụ điển hình, khi mặt hàng thực phẩm chế biến phát triển tốt, nó sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất nguyên liệu, ngành công nghiệp chế tạo thiết bị chế biến thực phẩm.
XKHNS tạo điều kiện mở rộng nguồn cầu, giúp cho sản xuất có nhiều cơ hội phát triển và ổn định; Khi tiến hành XKHNS, hàng nông sản được coi như một đối thủ trong thị trường kinh tế cạnh tranh. Điều này yêu cầu các công ty, nông dân sản xuất luôn đổi mới, tái cơ cấu sản xuất để thích nghi với những thay đổi của thị trường trong và ngoài nước. Năm là, XKHNS góp phần mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại. XKHNS góp phần mở cửa nền kinh tế, đưa kinh tế nước ta hội nhập sâu với kinh tế thế giới.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã lần lượt là thành viên n 10 của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, như ASEAN, AFTA, WTO. Đây là cơ hội cho Việt Nam thiết lập quan hệ với các nền kinh tế tiềm năng trên thế giới.