Chương 1. Giới thiệu tổng quan Trình bày lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của luận văn nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm, lý thuyết, các vấn đề liên quan đến đề tài và các nghiên cứu trước. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước và những đặc điểm của các Quốc gia nghiên cứu, chương này sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu cho mô hình nghiên cứu. Phân tích kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu, mô tả và phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng. Xác định mức độ tác động của tỷ giá đến lợi thế cạnh tranh của các Quốc gia có thu nhập trung bình thấp và thu nhập thấp. Kết luận và kiến nghị chính sách Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, gợi ý một số chính sách.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài (nếu có). Học viên thực hiện: Đỗ Đăng Minh – Lớp ME015A 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Các khái niệm liên quan: 2. Khái niệm về cạnh tranh: - Khái niệm cạnh tranh tuy đã được mở rộng cho Quốc gia, nhưng hiện vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa này, vì lợi thế cạnh tranh của một quốc gia không thể định nghĩa như lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Chính vì lý do này, nên một số các nhà kinh tế đã tìm cách phân biệt giữa cạnh tranh doanh nghiệp và cạnh tranh quốc gia, cụ thể: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2014): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm thì cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà là cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Theo giáo trình Kinh tế Chính trị học Mac-Lenin (2002): “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất- kinh doanh với nhau nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi trong sản xuất-kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Theo Michael Porter (1990): cạnh tranh doanh nghiệp tồn tại chủ yếu do mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận ở thị trường trong và ngoài nước. Trong khi đó, đối với Quốc gia, cạnh tranh được thể hiện là nâng cao mức sống dân cư bằng cách tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả nhằm khuyến khích các doanh nghiệp nâng Học viên thực hiện: Đỗ Đăng Minh – Lớp ME015A 8 cao năng suất trong môi trường đó. Định nghĩa này bao hàm khả năng của một quốc gia trong việc đạt được thành quả cao về gia tăng mức sống dân cư và khả năng này phụ thuộc vào khả năng của các doanh nghiệp trong một quốc gia đạt được năng suất cao và gia tăng năng suất liên tục trong môi trường cạnh tranh quốc tế.
Việc gia tăng năng suất liên tục yêu cầu không những phải cải thiện năng suất của các doanh nghiệp trong ngành hiện hữu bằng cách gia tăng chất lượng sản phẩm và công nghệ, mà còn đòi hỏi phải cải thiện môi trường kinh doanh của nền kinh tế một cách liên tục nhằm tạo ra động cơ cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đó phải liên tục có sự đổi mới và cải thiện công nghệ. Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003, tại diễn đàn Liên hợp quốc, thì cho rằng cạnh tranh đối với một quốc gia là: "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”. - Từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản, cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vượt qua đối thủ của mình để đạt được một hay một số mục tiêu nhất định. Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (khuyến mãi, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế.
Lợi thế cạnh tranh: - Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm hay được nói đến trên báo chí cũng như các phương tiện thông tin đại chúng khác trong những năm gần đây, nhưng trên thực tế đây là một vấn đề còn tương đối mới lạ về mặt lý thuyết. Hơn nữa, chính vì khái niệm này khá rộng nên trong đề tài chỉ xin nêu ra một số các khái niệm cơ bản về lợi thế cạnh tranh của Quốc gia, cụ thể: Theo Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng đã đưa ra định nghĩa về lợi thế cạnh tranh quốc gia Học viên thực hiện: Đỗ Đăng Minh – Lớp ME015A 9 riêng, đó là: “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Mỹ lại sử dụng định nghĩa lợi thế cạnh tranh đối với một Quốc gia như sau: “Lợi thế cạnh tranh đối với một quốc gia là lợi thế mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, Quốc gia đó có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước mình”. Theo Báo cáo trong hội nghị của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tổ chức tại Học viện phát triển quản lý quốc tế ở Lausanne thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia (ở đây thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được dùng với ý nghĩa tương tự như thuật ngữ “lợi thế cạnh tranh của một quốc gia”) được định nghĩa là khả năng thiết kế, sản xuất và tung ra thị trường những hàng hoá và dịch vụ có đặc tính giá cả và phi giá cả để hình thành một sự kết hợp có đặc tính hấp dẫn hơn so với các đối thủ khác.
- Tóm lại, lợi thế cạnh tranh Quốc gia là tập hợp những khác biệt vượt trội tương đối về: (i) nguồn lực kinh tế; (ii) môi trường kinh tế - xã hội; và (iii) cơ chế vận hành nền kinh tế - xã hội…của một quốc gia đặt trong tương quan so sánh với các quốc gia khác. Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia/ vùng lãnh thổ trên thế giới: Gần đây, diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), có báo cáo về chỉ số cạnh tranh toàn cầu của 137 quốc gia/ vùng lãnh thổ trên thế giới năm 2017, được tổng hợp ở bảng 2.3, cụ thể: Bảng 2.3_Chỉ số cạnh tranh toàn cầu của các Quốc gia Score Score Rank Rank Country / Economy 1-7 Country/ Economy 1-7 / 137 / 137 (best) (best) 1 Switzerland 5.2 6 Hong Kong SAR 5.1 Học viên thực hiện: Đỗ Đăng Minh – Lớp ME015A 10 9 Japan 5.3 83 Trinidad and Tobago 4.1 17 United Arab Emirates 5.4 Học viên thực hiện: Đỗ Đăng Minh – Lớp ME015A 11 53 Turkey 4.3 126 Congo, Dem Rep.9 69 Iran, Islamic Rep.3 Nguồn: World Economic Forum, The Global Competitiveness Report 2017–2018. Thông qua các hệ số cạnh tranh toàn cầu của các quốc gia (được tổng hợp theo tỷ lệ của 12 chỉ số trụ cột), cho thấy đa số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và thu nhập thấp đều có chỉ số cạnh tranh nằm trong nhóm cuối cùng. Phân loại các Quốc gia theo mức thu nhập: 2.
Khái niệm: - Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB -2015): Những nước có thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người dưới 1.025 đô la được gọi là các nền kinh tế có thu nhập thấp, gồm 31 quốc gia/ vùng lãnh thổ; Những nước có GNI trên đầu người từ 1.035 USD là các nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp, gồm 52 quốc gia/ vùng lãnh thổ; Những nước có GNI bình quân đầu người từ 4.475 USD là các nền kinh tế thu nhập trung bình cao, gồm 56 quốc gia/ vùng lãnh thổ; Các nền kinh tế có thu nhập cao là những nước có GNI trên đầu người từ 12.476 đô la trở lên, gồm 79 quốc gia/ vùng lãnh thổ. Đặc điểm các quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp: Học viên thực hiện: Đỗ Đăng Minh – Lớp ME015A 12 + Mức sống thấp: đa số các quốc gia này là những nước còn nghèo, có mức GNI bình quân đầu người cao nhất là 4.035 USD/ năm, nên mức sống của họ còn khá thấp so với mức sống ở các nước có thu nhập trung bình cao và thu nhập cao. + Sản lượng thấp: do thiếu vốn đầu tư và chất lượng lao động thấp nên năng suất lao động ở các nước này thấp dẫn đến sản lượng thấp. Việc nâng cao năng suất lao động có thể được thực hiện thông qua hai cách chủ yếu sau: (i) bằng việc huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để tạo nguồn tài chính bổ sung nguồn vốn cho đầu tư; (ii) nâng cao nguồn vốn con người thông qua đầu tư vào giáo dục và đào tạo.