CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm Điều 3 Luật đầu tư (2005) định nghĩa: “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài. Vì vậy, đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể được hiểu theo nghĩa rộng thông qua 3 hình thức: • Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của doanh nghiệp, Chính phủ và các tổ chức khác được phép phát hành. • Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán.
• Đầu tư thông qua các định chế trung gian khác.2 Vai trò Trong khi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì đầu tư gián tiếp (FPI) lại có tác động kích thích sự phát triển của thị trường tài chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp 123doc 5 cận với các nguồn vốn, nâng cao vai trò quản lý và có tác dụng thúc đẩy lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế. Từ đó, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.3 Đặc trưng Tính thanh khoản cao Do chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức rủi ro nhấn định) hoặc mức độ an toàn của chứng khoán (với một mức lợi tức nhất định) chứ không quan tâm đến việc quản lý quá trình sản xuất và kinh doanh thực tế nên FPI có tính thanh khoản cao. Nói cách khác, nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể dễ dàng bán lại những chứng khoán cổ phần và chứng khoán nợ mà họ đang nắm giữ để đầu tư vào nơi khác với mức tỷ suất lợi tức cao và một mức rủi ro nhất định, hay với mức rủi ro thấp hơn và với mức tỷ suất lợi tức nhất định. Tính thanh khoản cao của FPI khiến cho hình thức đầu tư này mang tính ngắn hạn, mặc dù cổ phiếu được coi là hình thức đầu tư dài hạn và thời hạn trái phiếu lớn hơn một năm.
Tính bất ổn Do có thể thay đổi rất nhanh để tìm kiếm tỷ suất lợi tức cao hơn hay để có được mức độ rủi ro thấp hơn nên FPI còn có đặc tính là bất ổn định và dễ bị đảo ngược. Tính bất ổn định trong một giới hạn nào đó, có thể là có lợi khi nó cung cấp những cơ hội kinh doanh với lợi nhuận cao hoặc những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Những cơ hội này sẽ thu hút các nhà đầu tư và khiến cho thị trường tài chính nội địa hoạt động hiệu quả hơn. Tính bất ổn còn chỉ ra rằng thị trường đang tìm kiếm những hình thức phân bổ vốn tốt nhất cho những cơ hội kinh tế hiện hành.
Tuy vậy, nếu điều này xảy ra thường xuyên và với mức độ lớn, những tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói 123doc 6 chung sẽ xuất hiện. Hơn thế nữa, tính thanh khoản cao cùng với tính bất ổn của FPI còn có thể dẫn tới tình trạng rút vốn ồ ạt khi có sự thay đổi trong quan niệm của giới đầu tư hoặc của các điều kiện kinh tế bên trong cũng như bên ngoài. Tính đa dạng Ngoài các đặc điểm trên, vốn FPI còn có đặc tính là tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và rất phức tạp như trái phiếu, cổ phiếu, giấy nợ thương mại hoặc dưới dạng các công cụ phái sinh.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư vào một nước, điều họ quan tâm đầu tiên là môi trường đầu tư và hệ thống luật pháp của nước họ đầu tư vào. Môi trường đầu tư thông thoáng, hệ thống pháp lý ổn định, rõ ràng, minh bạch, bảo vệ được nhà đầu tư chân chính sẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh mẽ.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển cơ sở hạ tầng tài chính và độ mở của thị trường chứng khoán, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu, uy tín của nhà phát hành và nước phát hành; sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian; sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm chứng khoán và doanh nghiệp. Dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường tài chính các nước theo tỷ lệ thuận với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả trong nước, cũng như việc nới rộng biên độ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các doanh nghiệp. 123doc 7 Vốn đầu tư nước ngoài còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, kinh tế ổn định, các quan hệ ngoại giao và môi trường pháp lý thuận lợi); mức độ tự do hóa (chính sách khuyến khích đầu tư, sự thông thoáng của chính sách quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư.); sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, và của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư.5 Tác động hai mặt của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 1.1 Tích cực - FPI góp phần làm tăng nguồn vốn trên thị trường vốn nội địa và làm giảm chi phí vốn thông qua việc đa dạng hóa rủi ro. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào các nước đang phát triển sẽ trực tiếp làm tăng nguồn vốn trên thị trường nội địa để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Ngoài ra, FPI còn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội chia sẻ rủi ro của mình với các nhà đầu tư nội địa. FPI sẽ khiến cho thị trường vốn nội địa trở nên có tính thanh khoản cao hơn và theo đó là việc đa dạng hóa rủi ro sẽ trở nên dễ dàng hơn, kết quả là nguồn vốn sẽ dồi dào hơn và chi phí vốn đối với công ty sẽ giảm. - FPI thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường. Dòng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào thị trường tài chính thông qua việc mua bán các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán (TTCK) và làm cho các loại chứng khoán niêm yết có tính thanh khoản cao hơn, thị trường năng động hơn và quy mô của thị trường qua đó cũng mở rộng hơn.
Một khi thị trường có tính thanh khoản cao hơn, sâu hơn và rộng hơn, một loạt dự án đầu tư khác nhau 123doc 8 sẽ được tài trợ. Nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư vì họ tin rằng có thể quản lý được danh mục đầu tư của họ và có thể bán đi một cách nhanh chóng nếu muốn thu hồi vốn. Khi đó, các doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội tiếp nhận được nguồn vốn phong phú, đa dạng. Vì thế, những thị trường có tính thanh khoản và hiệu suất cao sẽ tạo sức hút mạnh mẽ đối với đầu tư dài hạn.
Sự hiện diện của các nhà đầu tư thể chế nước ngoài (công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, quỹ tự bảo vệ rủi ro.) sẽ giúp cho các thể chế tài chính trong nước có cơ hội tiếp cận với thị trường vốn quốc tế; áp dụng các công cụ và kỹ thuật tài chính mới như tương lai, quyền chọn, hoán đổi hoặc những công cụ bảo hiểm khác; cải tiến các khuôn khổ giám sát và điều tiết… với kết quả là khả năng quản lý rủi ro của các nhà đầu tư nước ngoài lẫn các nhà đầu tư nội địa sẽ được tăng cường và nâng cao sức cạnh tranh của các thể chế tài chính nội địa. Thị trường tài chính phát triển làm tăng hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Một công ty muốn cạnh tranh thu hút nguồn tài trợ thì phải hoạt động có hiệu quả hơn, triển vọng tốt hơn và có trình độ điều hành tốt hơn. Mặt khác, nếu thị trường chứng khoán phát triển tạo điều kiện cho các nhà đầu tư bên ngoài có thể mua lại doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả.
Mua lại có thể khiến cho công ty kinh doanh kém hiệu quả trở nên có hiệu quả và có lợi tức cao hơn. Mua lại cũng còn khiến cho công ty trở nên vững mạnh hơn và đem lại lợi tức cho các nhà đầu tư cũng như cho nền kinh tế nội địa. FPI giúp tăng cường tính kỷ luật đối với thị trường nội địa. Do không có lợi thế về những thông tin nội bộ về các dự án đầu tư của công ty, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đặc biệt yêu cầu một mức độ công khai hóa cao hơn, những chuẩn mực kế toán cao hơn và mang theo những kinh nghiệm của họ trong việc thực 123doc 9 hiện những chuẩn mực này.
Cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cũng như trong việc tiếp nhận nguồn tài trợ sẽ buộc các thể chế tài chính nội địa và các công ty nội địa phải áp dụng những chuẩn mực kế toán quốc tế, thực hiện minh bạch hoá thông tin và cải tiến hình thức quản lý. Điều này sẽ khiến cho thị trường tài chính nội địa hoạt động có kỷ luật hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn do giảm thiểu được sự bất cân xứng thông tin, và qua đó giảm được những hiệu ứng bất lợi cho nhà đầu tư. Kết quả là người tiêu dùng sẽ có được những dịch vụ tài chính với chất lượng cao hơn và chi phí thấp hơn. - FPI góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu của kinh tế thị trường.
Tính bất ổn định và dễ bị đảo ngược của vốn FPI sẽ buộc các Chính phủ phải thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh nhằm giảm thâm hụt ngân sách, giảm lạm phát, giảm sự mất cân đối bên ngoài,.