Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tự do hóa tài khoản vốn trong ASEAN+3 Chương 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3. Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa tài khoản vốn trong khuôn khổ ASEAN+3 Chương 4.
Tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam trong ASEAN+3 Kết luận 3 z ` CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN TRONG ASEAN+3 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan 1. Các nghiên cứu về ASEAN, ASEAN+3 và AEC Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến ASEAN, ASEAN+3 và AEC đã từng bƣớc làm sáng tỏ các vấn đề trọng tâm, cốt lõi và toàn diện về hợp tác phát triển trong khu vực. Hiến chƣơng ASEAN (2008), là văn kiện pháp lý tổng thể tạo khung pháp lý và khuôn khổ thể chế nhằm thúc đẩy hơn nữa các hoạt động hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thiết thực hỗ trợ các nỗ lực gia tăng liên kết khu vực và xây dựng Cộng đồng ASEAN.
Mục tiêu tự do hóa dòng vốn đƣợc xác định tại khoản 5, điều 1, chƣơng I Hiến chƣơng ASEAN. Đề cƣơng AEC, Mục 8, phần II đã khẳng định AEC dựa trên bốn trụ cột chính là: (i) Một thị trƣờng và cở sở sản xuất duy nhất; (ii) Một khu vực kinh tế cạnh tranh cao; (iii) Một khu vực phát triển kinh tế bình đẳng và (iv) Một khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu. Cộng đồ ng kinh tế Asean : Nội dung và lộ trình của Nguyễn Hồng Sơn (2009) là một công trình tiêu biểu nghiên cứu về nội dung và lộ trình của AEC. Nghiên cứu này đã cung cấp một bức tranh toàn diện và tổng thể về lịch sử hình thành, mục tiêu, các nội dung, hình thức hợp tác trong AEC và lộ trình thực hiện các hợp tác đó.
Nghiên cứu này cùng với một số nghiên cứu khác nhƣ bài viết Sự tham gia của Viê ̣t Nam vào Cộng đồ ng kinh tế Asean trong đi ̣nh hướng phát triể n kinh tế và hộ i nhập kinh tế quố c tế của Đỗ Hoài Nam (2006), Cộng đồ ng kinh tế Asean : Nội dung,các biện pháp thực hiện và những vấn đề đặt ra của Nguyễn Hồng Sơn (2007) cũng chỉ ra rằng mục tiêu “thị trƣờng sản xuất duy nhất” của AEC chỉ dựa trên bốn tự do (4F) ở mức yếu là tự do di chuyển hàng hoá và dịch vụ, tự do di chuyển vốn hơn và lao động có tay nghề. Nói cách khác, AEC chỉ là mô hình liên kết kinh tế 4 z ` khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN, bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn. Các nghiên cứu và báo cáo liên quan đến sự tham gia của Việt Nam vào AEC đƣợc thực hiện bởi Bùi Trƣờng Giang và cộng sự (2005), Đỗ Hoài Nam (2006), Nguyễn Xuân Thắng (2006), Nguyễn Xuân Thắng và Nguyễn Hồng Sơn (2007), Bộ Công Thƣơng (2010), Nguyễn Hồng Sơn (2009), ASEAN (2011), Võ Trí Thành và cộng sự (2012). Ngoài ra, vấn đề hội nhập AEC cũng đƣợc đề cập đến nhiều trên các báo, tạp chí, trong đó điển hình là các bài báo của Vũ Huy Hoàng (2010) và MUTRAP III (2011a).
Thêm vào đó, có một số nghiên cứu khác cũng xem xét việc Việt Nam thực hiện AEC nhƣng đặt trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ nghiên cứu của MUTRAP III (2011b). Điểm chung của các nghiên cứu trên là đều giới thiệu quá trình ra đời, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động, thể chế và nội dung hợp tác của AEC để làm cơ sở phân tích sự tham gia của Việt Nam vào AEC. Các tác giả sau đó phân tích các hoạt động chính của Việt Nam để thực hiện AEC và từ đó đƣa ra các giải pháp để thúc đẩy sự tham gia tích cực và hiệu quả của Việt Nam trong AEC. Các gợi mở về quan điểm, định hƣớng và chính sách thúc đẩy Việt Nam tham gia vào AEC.
Nguyễn Hồng Sơn (2009) cho rằng việc tham gia hiệu quả của Việt Nam vào AEC cần dựa trên các định hƣớng nhƣ: thống nhất tích cực nhận thức về AEC và quán triệt quan điểm tích cực tham gia AEC; thiết lập đƣợc vai trò chủ chốt của Việt Nam trong các quyết sách lớn và hoạt động quan trọng của AEC; xác định rõ các thuận lợi và khó khăn khi tham gia AEC; tích cực nghiên cứu, đề xuất các sáng kiến về mô hình và cơ chế hoạt động AEC; kết hợp đồng thời đổi mới kinh tế và hội nhập AEC. Vũ Huy Hoàng (2010) gợi mở các giải pháp cụ thể hơn cho Việt Nam tham gia AEC, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp thay đổi nhận thức chung của không chỉ các cơ quan hoạch định chính sách mà cả từng doanh nghiệp, từng ngƣời dân về tầm quan trọng của AEC và sự cần thiết phải tham gia AEC. Bộ Công Thƣơng (2010) dựa trên cơ sở tổng kết 15 năm Việt Nam tham gia ASEAN cũng đã 5 z ` đề xuất những biện pháp giúp Việt Nam tham gia hợp tác kinh tế trong ASEAN trong thời gian tới, từ tổng thể đến cụ thể gồm: xây dựng chiến lƣợc Hội nhập kinh tế khu vực, đặt trọng tâm vào ASEAN và lƣu ý AEC là lựa chọn chính sách quan trọng mang tầm chiến lƣợc của ASEAN; đƣa các kế hoạch thiết lập AEC vào chƣơng trình hành động của các Bộ, ngành; nâng cao công tác phổ biến thông tin với các doanh nghiệp, địa phƣơng và cơ quan quản lý về AEC; tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực đàm phán, năng lực pháp lý, chyên môn cho các cán bộ điều phối và tham gia hợp tác kinh tế ASEAN. Nguyễn Thu Mỹ (2008) nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN+3; Phạm Đức Thành (2006) nghiên cứu về liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI; Trần Khánh (2006) xem xét những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI; Hoàng Khắc Nam (2008) nghiên cứu các vấn đề và triển vọng về hợp tác đa phƣơng ASEAN + 3.
Các nghiên cứu về hội nhập tài chính, tự do hóa tài khoản vốn Peter Blair Henry (2006) đã đƣa ra nghiên cứu lý thuyết về tự do hóa tài khoản vốn, dẫn chứng và suy luận về tự do hóa tài khoản vốn. Coi tự do hóa tài khoản vốn là một quyết định của chính phủ của một quốc gia để di chuyển từ một chế độ tài khoản vốn khép kín, nơi vốn có thể không di chuyển tự do trong và ngoài nƣớc sang một hệ thống tài khoản vốn mở, trong đó vốn có thể vào, ra theo mong muốn; Michael W. Klein (2005) đã nghiên cứu về tự do hóa tài khoản vốn, chất lƣợng thể chế và tăng trƣởng kinh tế: Lý thuyết và bằng chứng; Age Backer và Bryan Chappen (2002) nghiên cứu và đƣa ra kinh nghiệm của các nƣớc phát triển về tự do hóa tài khoản vốn; Eswar S. Prasad Raghuram Rajan (2008) sử dụng cách tiếp cận thực tế về tự do hóa tài khoản vốn; Menzie D.
Chinn Hiro Ito (2002) nghiên cứu về tự do hóa tài khoản vốn, phát triển tổ chức và tài chính: Bằng chứng qua các quốc gia; Michael W. Klein (2003) đánh giá mối liên hệ mở tài khoản vốn và kinh nghiệm tăng trƣởng; Michael Klein Giovanni Olivei (2005) nghiên cứu tự do hóa tài chính, tài khoản vốn sâu và tăng trƣởng kinh tế; The Road to Asean Financial Integration - Con đƣờng hội nhập tài chính ASEAN là một nghiên cứu kết hợp đánh 6 z ` giá tổng quan tài chính và xây dựng cột mốc cho hội nhập tài chính và tiền tệ trong ASEAN. Tô Ngọc Hƣng (2013), bàn về định hƣớng chính sách tự do hóa giao dịch vốn của Việt Nam nhằm ổn định khu vực tài chính giai đoạn đến 2020. Phân tích cho thấy, tự do hóa giao dịch vốn mang lại những lợi ích không nhỏ cho các quốc gia, nhƣng đồng thời cũng tiềm ẩn những rủi ro, ảnh hƣởng đến ổn định kinh tế vĩ mô nếu không có những biện pháp và lộ trình thích hợp; Nguyễn Tiến Dũng (2012) đã phân tích hiện trạng và triển vọng hợp tác tiền tệ trong ASEAN và một số chính sách đặt ra đối với Việt Nam.
Phân tích cho thấy ASEAN mới chỉ trong giai đoạn đầu của quá trình hợp tác tiền tệ, việc thiếu các cam kết chính trị mạnh mẽ và các thể chế khu vực hiệu quả là trở ngại chính đối với quá trình hợp tác tiền tệ hiện tại và trong tƣơng lai; Nguyễn Thị Vũ Hà (2013), nghiên cứu lại các biện pháp đã đƣợc các nƣớc đang phát triển mới nổi sử dụng để điều tiết và kiểm soát các dòng vốn vào để từ đó đƣa ra một số gợi ý cho Việt Nam trong việc quản lý và điều tiết các dòng vốn nƣớc ngoài vào trong nƣớc; Nguyễn Cẩm Nhung (2013), đã khảo sát mức độ hội nhập tài chính và sự chuẩn bị để hội nhập tài chính sâu hơn trong AEC của Thái Lan. Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy trong hợp tác tài chính tiền tệ khu vực, Thái Lan đã đóng vai trò rất tích cực trong thực hiện kế hoạch hội nhập tài chính và tự do hóa tài khoản vốn để tạo ra một môi trƣờng hội nhập sâu hơn trong AEC. Các nghiên cứu, quan điểm, định hƣớng và giải pháp trên là phù hợp và đúng đắn. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới, ASEAN và ASEAN+3 có những biến động lớn cả về kinh tế và chính trị thì việc nghiên cứu để gợi mở các định hƣớng và giải pháp phù hợp cho từng lĩnh vực cụ thể là hết sức cần thiết.
Xét trên khía cạnh hội nhập tài chính và tự do hóa tài khoản vốn trong ASEAN+3, đến nay chƣa thực sự có nhiều nghiên cứu làm sáng tỏ và gợi mở chính sách thúc đẩy hội nhập tài chính của ASEAN+3 và của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 và các năm tiếp theo. Có thể nói, đây là khoảng thiếu trong nghiên cứu về hội nhập tài chính của Việt Nam trong ASEAN+3. Trong luận văn 7 z ` này, học viên sẽ cố gắng khắc phục những nhƣợc điểm của các công trình nghiên cứu đi trƣớc, đƣa ra một nghiên cứu tƣơng đối khái quát và hệ thống về vấn đề tự do hóa tài khoản vốn trong ASEAN+3. Cơ sở lý luận về tự do hóa tài khoản vốn trong ASEAN+3 1.
Những vấn đề cơ bản về tài khoản vốn 1.