CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ KINH NGHIỆM TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tự do hóa tài chính và bong bóng tài sản trong một quốc gia 1.1 Khái lược về TDHTC 1.1 Khái niệm TDHTC TDHTC là quá trình xóa bỏ những kìm hãm và ràng buộc về mặt tài chính, hay nói cách khác TDHTC là quá trình để cho các công cụ của chính sách tiền tệ được vận hành theo cơ chế thị trường 1. Nếu Chính phủ các nước đánh thuế hoặc bóp méo thị trường vốn bằng cách sử dụng các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao, áp dụng mức trần lãi suất tiền gửi và cho vay, sử dụng trợ cấp tín dụng để thúc đẩy thực hiện các mục tiêu trước mắt của kế hoạch phát triển… thì nền kinh tế nước đó được coi là bị kìm hãm về mặt tài chính. Nghĩa là : - Cản trở sự phát triển của hệ thống tài chính theo chiều sâu. - Không làm tăng trưởng vốn đầu tư vì khả năng huy động tiết kiệm bị hạn chế.
- Tiền tệ bất ổn định và các tài sản tài chính không có tính thanh khoản v. Nói tóm lại, TDHTC là quá trình tháo gỡ những kìm hãm tài chính nhằm làm gia tăng chiều sâu tài chính và phát triển thị trường tài chính của một quốc gia.2 Bản chất TDHTC Nói một cách dễ hiểu hơn về bản chất của tự do hoá tài chính: đó là quá trình xoá bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồn lực tín dụng. Mọi điều tiết trong quá trình phân bổ này đều được đặt trên nền tảng cơ chế giá, tức là các định chế tài chính được quyền tự do xác định lãi suất tiền gửi, cho vay.Kinnon Ronald I 123doc 4 Điều này cũng bao hàm việc xoá bỏ các mức trần lãi suất cũng như các ràng buộc khác trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được , giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc. TDHTC cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của các định chế tài chính, với việc chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa những loại hình hoạt động khác nhau.3 Mối quan hệ giữa TDHTC và chiều sâu tài chính Chiều sâu tài chính là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình phát triển các trung gian tài chính, bao gồm cả quá trình tự do hóa khu vực ngân hàng, và phát triển một thị trường cổ phiếu và trái phiếu năng động.
Tỷ số M3/GNP càng cao thì chiều sâu tài chính càng đáng kể. Tỷ số M3/GNP cao cho thấy một dòng vốn thực sự của các quỹ có khả năng cho vay trong nước dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư mới 2. Ở các nước đang phát triển, do thị trường chứng khoán chưa phát triển nên thước đo chiều sâu tài chính là M2/GNP, thước đo trình độ chiều sâu tài chính tập trung chủ yếu chỉ vào lĩnh vực ngân hàng. Nhìn chung, các nước duy trì một lãi suất thực cao hơn và giá cả ổn định hơn đã có sự tăng trưởng tài chính thực sự lành mạnh hơn.
Số liệu ở bảng 1.1 sẽ thể hiện quan điểm này. Cả hai nhóm nước có nền kinh tế tăng trưởng chậm hoặc tăng trưởng thất thường đều có mức tài sản tài chính trong nước rất thấp, với tỷ số M3/GNP trung bình (từ năm 1960 đến 1985) vào khoảng 0,227. Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Nhật Bản, Đài Loan, Tây Đức và Singapore có tỷ số M3/GNP là 0,75 (vào năm 1985). Ronald I (1995), Trình tự tự do hóa kinh tế - Quản lý tài chính trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 123doc 5 Bảng 1.1: Quỹ Ngân hàng có thể cho vay ở các nước kém phát triển điển hình.
Ronald I (1995), Trình tự tự do hóa kinh tế - Quản lý tài chính trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Bảng 1.2: Quỹ Ngân hàng có thể cho vay trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh. (Tỷ số M3 so với GNP) Tên nước/năm 1955 1960 1965 1970 1975 1980 1985 Tây Đức 0,331 0,294 0,448 0,583 0,727 0,913 1,019 Nhật Bản 0,554 0,737 0,701 0,863 1,026 1,390 1,599 Hàn Quốc 0,069 0,114 0,102 0,325 0,323 0,337 0,396 Đài Loan 0,115 0,166 0,331 0,462 0,588 0,750 1,264 Sin-ga-po - - 0,542 0,701 0,668 0,826 0,788 Nguồn: Mc. Ronald I (1995), Trình tự tự do hóa kinh tế - Quản lý tài chính trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Có một sự thống nhất chung giữa các nhà kinh tế là sự phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng phát triển hệ thống tài chính góp phần tăng trưởng kinh tế (Rajan and Zingales, 2003).
Một nghiên cứu ở nhiều nước đang phát triển cho thấy rằng phát triển tài chính (bao gồm tài sản của các định chế tài chính trung gian, khả nă ng thanh toán của các tổ chức tài chính, khả năng vốn hóa thị trường cổ phiếu và trái phiếu, tín dụng trong nước cho khu vực tư nhân (domestic credit 123doc 6 to private sector) thì có quan ệh với tăng trưởng kinh tế một cách mạnh mẽ và tích cực (King and Levine, 1993; Levine and Zervos, 1998).2 Hiệu quả của tự do hóa tài chính TDHTC ở các nước đang phát triển được xem là một phần quan trọng và cần thiết của chính sách phát triển kinh tế. Cụ thể, TDHTC ở các nước đang phát triển đã làm tăng mức độ độc lập của ngân hàng trung ương, làm giảm sự áp chế tài chính bằng tự do hóa lãi suất và cải cách tài chính, giảm trợ cấp tín dụng, đồng thời tự do hóa dòng vốn. Ở hầu hết các nước đang phát triển, ngành ngân hàng thống trị hệ thống tài chính và thị trường chứng khoán nhưng không được phát triển tốt. Chính phủ hạn chế quyền lực của ngân hàng nên thường dẫn đến kết quả là lãi suất thực âm và dư cầu tín dụng, chính phủ hạn chế mức cho vay của ngân hàng.
Kết quả là tín dụng được phân bổ đến các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp theo quyết định của chính phủ hơn là theo tính cạnh tranh của thị trường. Vì vậy, TDHTC sẽ có những mặt lợi sau: Việc quyết định lãi suất của thị trường sẽ dẫn đến kết quả lãi suất thực dương, điều này sẽ giúp gia tăng các nguồn lực có thể cho hệ thống tài chính bởi vì ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất cạnh tranh để thu hút tiền gửi, hơn nữa với lãi suất thực dương sẽ thu hút nhiều người vay tiền để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, vì thế sẽ cải thiện được nền kinh tế đất nước. Kết quả là TDHTC, thông qua ngân hàng, sẽ dẫn đến gia tăng vai trò trung gian tài chính về chất lượng và số lượng. TDHTC có thể khuyến khích phát triển kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, bởi vì hệ thống tài chính thực hiện chức năng thu hút và luân chuyển nguồn vốn giúp đầu tư có hiệu quả, cụ thể: - TDHTC có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng do gia tăng mức độ đầu tư và nâng cao tỷ suất sinh lợi của đầu tư thông qua việc các nước này tiếp cận được với kinh nghiệm quản lý hiện đại, các thành quả khoa học trên thế giới và đặc biệt tiếp cận được tác động của thị trường hiệu quả.
123doc 7 - TDHTC cũng thúc đẩy tăng trưởng do khuyến khích các nhà đầu tư chuyển hướng vào đầu tư những dự án có rủi ro cao hơn (vì nhà đầu tư có thể đa dạng hoá các danh mục đầu tư của mình) để hưởng được tỷ suất lợi nhuận cao hơn. - TDHTC cho phép mọi cá nhân tự bảo hiểm chống lại sự phát triển không cân đối trong nền kinh tế nước chủ nhà bằng cách đa dạng hóa đầu tư và khai thác thị trường toàn cầu để làm dịu đi sự suy giảm tạm thời trong thu nhập. - TDHTC có thể thúc đẩy đầu tư ở các nước đang phát triển bằng cách giải bài toán giữa tiết kiệm và đầu tư trong một quốc gia. Trong một nền kinh tế đóng về mặt tài chính, đầu tư phải được tài trợ bằng tiết kiệm trong nước.
Hai yếu tố này cân xứng với nhau qua những chuyển biến của lãi suất thực, đó là chi phí vay nợ và suất sinh lợi từ tiết kiệm. Không có các dòng vốn quốc tế, thì không thể cho rằng sẽ có sự cân bằng suất sinh lợi từ đầu tư giữa các nước, điều này dẫn đến sự phân bổ sai các nguồn lực: ở cận biên, những dự án đầu tư có khả năng sinh lời cao ở một số nước có thể không được thực hiện vì thiếu vốn, trong khi những dự án có sinh lợi thấp hơn ở những nơi khác lại được cấp vốn. TDHTC cắt đứt mối liên kết giữa tiết kiệm địa phương và đầu tư địa phương, cho phép tiền tiết kiệm “chảy một cách đương nhiên và cấp kỳ tới nơi cần chúng nhất và tận dụng chúng nhất, giống như nước chảy đến chỗ trũng” (Bagehor 1924, trang 12). Các nhà đầu tư có thể đi vay và những người tiết kiệm có thể cho vay trên thị trường quốc tế, do vậy lãi suất toàn cầu sẽ trở thành chi phí sử dụng vốn (chi phí của vốn) và suất sinh lợi từ tiết kiệm tương xứng, chứ không phải lãi suất quốc gia.
Dĩ nhiên, tiết kiệm và đầu tư vẫn phải cân xứng, nhưng bây giờ chúng cân xứng trong phạm vi toàn cầu hơn là trong phạm vi quốc gia. Do vậy, những kết quả tiềm ẩn từ đầu tư cao hơn biến đổi từ quốc gia này đến quốc gia khác tuỳ thuộc vào tỷ suất sinh lợi của các cơ hội đầu tư và sự khác biệt giữa chi phí sử dụng vốn trong nước, thường rất cao trước khi tự do hóa so với chi phí sử dụng vốn quốc tế. - TDHTC làm gia tăng cái giá phải trả từ các lỗi lầm trong hoạch định chính sách và làm tăng thêm những ràng buộc và hạn chế đối với việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước đang phát triển. Vì vậy, giúp thúc đẩy việc cải cách những chính 123doc 8 sách kinh tế vĩ mô tốt hơn, nâng cao hiệu lực của các chính sách này và kỷ luật của thị trường.
Kết quả của nhiều nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích đề cập trên đây là thực tế.