LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của nghiên cứu Đối với những nƣớc đang phát triển với nguồn tích lũy vốn nội bộ trong nền kinh tế còn thấp nhƣ Việt Nam, việc thu hút vốn từ bên ngoài, trong đó có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI, là rất cần thiết cho đầu tƣ phát triển. FDI đƣợc coi là cú huých nhằm giúp Việt Nam thoát khỏi "vòng luẩn quẩn" về kinh tế. Trong nhiều năm, Việt Nam luôn duy trì tăng trƣởng ở mức cao, tốc độ tăng trƣởng kinh tế trung bình giai đoạn 2005 – 2015 đạt 6,25% (World Bank, 2016).
Trong đó, yếu tố vốn đóng góp đến hơn 60% GDP (APO, 2015). Thực tế cho thấy, vốn FDI ngày càng bộc lộ tính hai mặt rất rõ rệt đối với nền kinh tế xã hội. Một mặt, vốn FDI đã và đang là một nguồn bổ sung rất quan trọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tƣ phát triển và tăng trƣởng kinh tế. Việc thu hút nguồn vốn FDI đã tạo thêm những ngành công nghiệp mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho Việt Nam, giúp cải thiện kim ngạch xuất khẩu, và cơ sở hạ tầng của Việt Nam.
Mặt khác, FDI làm nảy sinh nhiều vấn đề bất cập nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, chuyển giao công nghệ lạc hậu, lấn áp doanh nghiệp trong nƣớc. Nhìn thẳng vào kết quả thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam, có thể thấy rằng hoạt động thu hút và sử dụng FDI ở Việt Nam chƣa đạt đƣợc những kết quả nhƣ kỳ vọng, Xét riêng yếu tố vốn đóng góp vào tăng trƣởng kinh tế, có đến 90% là vốn không đi kèm công nghệ (non-IT capital), cho thấy tăng trƣởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào yếu tố tài chính mà chƣa khai thác đƣợc sức mạnh đòn bẩy từ các yếu tố khác nhƣ chất lƣợng nguồn nhân lực, các nhân tố sản xuất (đất đai, công nghệ), năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ còn yếu. Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa sản xuất và hàng hóa xuất khẩu cũng chƣa đƣợc cải thiện nhiều. 80% mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đƣợc xuất khẩu từ khu vực FDI nhƣng hầu hết là những mặt hàng truyền thống, nguyên liệu thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng không cao, hàng gia công.
Việt Nam vẫn chủ yếu khai thác nguồn lực có sẵn (nghĩa là dựa trên lợi thế tĩnh) nhƣ khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng lao động sẵn có mà chƣa khai thác tối ƣu lợi thế động. Nhiều Luận án tiến sĩ Kinh tế -2- mặt hàng nặng về sử dụng nhiều lao động giản đơn hay khai thác tài nguyên nên giá trị và khả năng cạnh tranh thấp. Mặt khác, mặc dù FDI đã góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhƣng kim ngạch nhập khẩu của khu vực này cũng tăng nhanh không kém. Tỷ trọng nguyên liệu nhập trong sản xuất của khu vực FDI rất cao, chiếm đến hơn 90%.
Điều này khiến cho cán cân thƣơng mại của khu vực FDI trong thời gian dài bị thâm hụt, những năm gần đây (2012 đến nay) đã có sự cải thiện nhƣng không đáng kể. Ngoài ra, tốc độ phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ FDI còn thấp. Khu vực công nghiệp phụ trợ còn rất sơ khai, mới chỉ sản xuất linh kiện đơn giản với giá trị nội địa hóa rất nhỏ, tham gia một khâu rất nhỏ hoặc thậm chí không thể tham gia vào chuỗi sản xuất trong nƣớc và toàn cầu. Hơn nữa, việc gắn kết giữa thu hút FDI với chuyển giao công nghệ kỹ thuật tiến bộ, đảm bảo công bằng xã hội còn chƣa chặt chẽ.
Do đó, Việt Nam đã và đang phải đánh đổi việc thu hút lƣợng vốn FDI khổng lồ với các vấn đề nảy sinh trong kinh tế - xã hội nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, thất nghiệp, phân hóa xã hội, phân hóa vùng miền, lấn át doanh nghiệp trong nƣớc. Điều này thể hiện một sự mất cân đối trong hệ thống chính sách FDI của Việt Nam, trong đó ƣu tiên thu hút về số lƣợng mà chƣa đảm bảo về chất lƣợng nguồn vốn. Thực tế cho thấy, kể từ khi ban hành Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 1987 đến nay, Việt Nam theo đuổi chính sách FDI ở cả 3 cấp độ: thu hút FDI, nâng cấp FDI, tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên, khi đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của các chính sách FDI của Việt Nam, kết quả cho thấy Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào cấp độ chính sách đầu tiên – thu hút FDI, trong khi các cấp độ chính sách khác chƣa thực sự đƣợc quan tâm, khiến hiệu lực thực thi hoặc/và hiệu quả chính sách chƣa cao.
Trong bối cảnh việc thu hút FDI còn có những tranh luận trái chiều ở cả giới chuyên gia và các nhà làm chính sách do tính hai mặt của bản thân nguồn vốn, trong Nghị Quyết Đại hội Đảng Khóa 12 (Tháng 1/2016) đã thông qua phƣơng hƣớng nhiệm vụ của toàn xã hội trong giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn tới 2030 với mục tiêu “đổi mới toàn diện và đồng bộ, phát triển nhanh, bền vững, sớm đưa Việt Nam Luận án tiến sĩ Kinh tế -3- cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”. Để đạt đƣợc mục tiêu này, FDI đƣợc dự đoán sẽ vẫn là một trong những bộ phận quan trọng. Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu Tƣ (2016), để đạt mục tiêu GDP bình quân đầu ngƣời đạt 3.500 USD vào năm 2020, và vốn đầu tƣ toàn xã hội đạt 32 - 34% GDP thì trung bình hàng năm Việt Nam cần khoảng 90 tỷ USD vốn đầu tƣ xã hội. Trong khi nguồn vốn tích lũy nội địa còn hạn chế thì Việt Nam đang cố gắng hết mức tận dụng nguồn vốn bên ngoài nhƣ ODA, vay thƣơng mại, và FDI.
Theo kinh nghiệm thu hút vốn đầu tƣ trong gần 30 năm qua ở Việt Nam, 70% vốn đầu tƣ xã hội là nguồn vốn trong nƣớc (vốn ngân sách, vốn doanh nghiệp nhà nƣớc, vốn doanh nghiệp tƣ nhân và dân cƣ), 30% là nguồn vốn ngoại (bao gồm viện trợ phát triển ODA, FDI và các nguồn vốn nƣớc ngoài khác). Với tỷ lệ này, trong giai đoạn 2016 – 2020 trung bình hàng năm sẽ phải huy động khoảng 23 – 25 tỷ USD vốn nƣớc ngoài, trong đó 17 – 18 tỷ USD là FDI. Hơn nữa, ODA ngày một giảm dần và không đƣợc ƣu đãi nhƣ trƣớc, khi Việt Nam đã gia nhập nhóm nƣớc có thu nhập trung bình. Dự kiến đến năm 2018, World Bank sẽ chấm dứt cung cấp nguồn vốn vay ODA đối với Việt Nam, còn vay thƣơng mại hiện không đáng kể.
Điều đó cũng có nghĩa để bù đắp việc giảm ODA, vốn FDI và vốn đầu tƣ gián tiếp sẽ đƣợc coi trọng hơn. Chính bởi vị trí quan trọng và không thể thay thế của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế Việt Nam nhƣ vậy, cần có một công trình nghiên cứu sâu và toàn diện thực trạng thu hút và sử dụng FDI cũng nhƣ hệ thống chính sách FDI của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời xác định mức độ thu hút FDI phù hợp để tối ƣu hóa lợi ích thu đƣợc từ nguồn vốn này. Xuất phát từ thực tiễn này, đề tài nghiên cứu “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” đƣợc thực hiện. Tổng quan các nghiên cứu Thời gian qua, có rất nhiều các nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế về tình hình thu hút FDI và tác động của FDI tới kinh tế - xã hội của các quốc gia tiếp nhận.
Luận án tiến sĩ Kinh tế -4- Trong đó, nhiều nghiên cứu đã phân tích vai trò của FDI đối với quốc gia tiếp nhận, cũng nhƣ những chính sách mà quốc gia đó áp dụng trong việc thu hút và sử dụng FDI. Các nghiên cứu quốc tế về thu hút và sử dụng FDI Hầu hết các nghiên cứu đều thừa nhận sự cần thiết của vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đối với quốc gia tiếp nhận bao gồm vốn, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý, marketing, mạng lƣới sản xuất toàn cầu…; và là một động lực quan trọng tạo điều kiện cho các quốc gia tiếp nhận phát triển và tăng trƣởng kinh tế (Lall, 2000; OECD, 2002). Có cùng quan điểm, OECD (2002) chỉ ra những lợi ích của nguồn vốn FDI và gợi ý việc chuyển giao công nghệ từ các dự án FDI đƣợc thực hiện qua bốn kênh: (i) chuyển giao theo chiều dọc với nhà cung cấp ở nƣớc sở tại; (ii) chuyển giao theo chiều ngang với các đối thủ cạnh tranh hoặc các công ty thuộc ngành phụ trợ; (iii) di chuyển các lao động có tay nghề cao; (iv) quốc tế hóa hoạt động R&D. Về động cơ của FDI, World Bank (2011), Rajan (2004) và nhiều nghiên cứu khác cho thấy có một xu thế chạy đua để thu hút FDI trên toàn thế giới, tuy nhiên các lý do thu hút FDI vào từng quốc gia không giống nhau [88, 95, 97, 98, 173, 175].
Các nghiên cứu cũng đã tổng kết lại một số lý do hấp dẫn FDI chủ yếu bao gồm: (i) tìm kiếm nguồn lực bao gồm cả nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực con ngƣời; (ii) tìm kiếm thị trƣờng; (iii) tìm kiếm hiệu quả đầu tƣ bằng cách giảm chi phí sản xuất, chi phí lao động; (iv) tìm kiếm tài sản chiến lƣợc ở quốc gia tiếp nhận ví dụ công nghệ mới, thƣơng hiệu, các kênh phân phối. Theo đó, các nghiên cứu gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa trên tiềm lực và lợi thế riêng của mình, để có chính sách thu hút FDI cho phù hợp và hiệu quả. Luận án tiến sĩ Kinh tế -5- Về hệ thống chính sách FDI, các chính sách có thể đƣợc phân chia làm ba cấp độ: (i) chính sách thu hút FDI; (ii) chính sách nâng cấp FDI; (iii) chính sách tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc [32, 33, 34, 35, 188]. Trong đó, chính sách thu hút FDI đƣợc hình thành bằng các ƣu đãi về thuế, đất đai, cơ chế thuận lợi trong việc chu chuyển vốn, xuất nhập khẩu, kinh doanh trên thị trƣờng trong nƣớc và các bảo đảm bằng luật về quyền sở hữu vốn và tài sản, sở hữu trí tuệ của nhà đầu tƣ.
Chính sách nâng cấp FDI đƣợc hình thành theo các định hƣớng ƣu tiên thu hút FDI theo chiến lƣợc phát triển của quốc gia. Trong một số trƣờng hợp, có nƣớc còn áp dụng hình thức trợ cấp của Chính phủ cho nhà đầu tƣ để họ thực hiện dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa rộng, thuộc danh mục ƣu tiên cao nhất.