MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, cùng với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống các NHTM và những thay đổi đáng kể trong ngành ngân hàng thì hệ thống NHTM ở nƣớc ta đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động và ổn định trật tự xã hội. Bên cạnh những mặt đạt đƣợc của hệ thống ngân hàng mà Đảng, Nhà nƣớc và xã hội ghi nhận thì hệ thống NHTM vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục nhƣ: nợ xấu tăng mạnh, tính thanh khoản của hệ thống chƣa ổn định, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chƣa thực sự vững chắc. Song trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến sự đỗ vỡ của hàng loạt các tập đoàn lớn do làm ăn thua lỗ, điều này dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng tăng cao đã gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Việt Nam.
Bức tranh về tổng thể nền kinh tế của đất nƣớc thật sự ảm đạm: tỷ lệ thất nghiệp tăng, lạm phát…. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng ổn định nền kinh tế để tạo nền tảng cho sự tăng trƣởng và phát triển của đất nƣớc trong thời gian tới. Để giải quyết vấn đề này, cần thiết phải tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, trong đó việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thƣơng mại là cực kỳ cần thiết. Đây cũng chính là lý do tôi lựa chọn đề tài tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam cho việc nghiên cứu của mình.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, thông qua đó, gợi ý các giải pháp để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thƣơng mại VN trong thời gian tới 2. Nhiệm vụ của đề tài - Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. - Nghiên cứu thực trạng về Hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong thời gian qua.
- Đƣa ra các giải pháp và kiến nghị 1 Luan van 3. Đối tƣợng nghiên cứu - Cơ sở lý luận về tái cơ cấu - Hệ thống ngân hàng thƣơng mại VN qua các năm 2010-2012 4. Phƣơng pháp nghiên cứu - Sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính - Sử dụng các phƣơng pháp tổng hợp, thống kê, so sánh số liệu làm cơ sở chứng minh cho các lập luận trong đề tài 5. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị 2 Luan van CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (1998), tái cơ cấu ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp đƣợc phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu (Bài học từ tái cơ cấu ngân hàng, IMF - 1997) thì tái cơ cấu ngân hàng là biện pháp hƣớng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng. Theo quan điểm này thì tái câu trúc ngân hàng bao gồm tái cơ cấu tài chính (financial restructuring), tái cơ cấu hoạt động (operational restructuring) và giám sát an toàn. Trong đó, tái cơ cấu tài chính hƣớng đến việc khôi phục khả năng thanh khoản bằng cách cải thiện bảng cân đối của các ngân hàng thông qua các biện pháp nhƣ tăng vốn, giảm nợ hoặc nâng giá trị tài sản.
Tái cơ cấu hoạt động hƣớng đến mục tiêu nâng mức lợi nhuận bằng cách chú trọng hƣớng đến chiến lƣợc hoạt động, cải thiện hiệu quả và năng lực quản lý của hệ thống kế toán, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng. Việc giám sát và các quy tắc an toàn đƣợc đặt ra nhằm mục tiêu cải thiện năng lực hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng với vai trò là trung gian tài chính. Riêng với Việt Nam, vào những năm cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á khiến hệ thống ngân hàng trong nƣớc đã bộc lộ rõ những yếu kém và tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính hệ thống thì vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã đƣợc nhắc đến. Theo Ngô Thị Bích Ngọc (2007): “Tất cả những biện pháp liên quan đến các mặt nhƣ: tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu tổ chức, tái cơ cấu hoạt động, đa dạng hóa nghiệp vụ ngân hàng, sáp nhập, giải thể ngân hàng, cổ phần hóa NHTM nhà nƣớc… nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng nói chung đều thuộc về lĩnh vực tái cơ cấu ngân hàng”.
Cho nên, “tái cơ cấu ngân hàng hiểu theo nghĩa 3 Luan van rộng thì nội dung của nó gần nhƣ bao hàm gần nhƣ tất cả các biện pháp tái cơ cấu liên quan đến từng ngân hàng và liên quan đến toàn bộ hệ thống ngân hàng. Nó có thể bao gồm các biện pháp liên quan đến NHTM riêng lẻ, nhƣ cổ phần hóa NHTM nhà nƣớc, sáp nhập, mua lại các NHTM, hoặc các biện pháp mang tính hệ thống khác”. Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng không phải là một hoạt động mang tính định kỳ. Chỉ khi nền kinh tế nói chung hoặc hệ thống ngân hàng thƣơng mại nói riêng của một quốc gia có những vấn đề khủng hoảng lớn thì việc tái cơ cấu mới đƣợc tiến hành.
Theo phân tích của Sameer Goyal (WB - 2011), động cơ để tiến hành tái cơ cấu ngân hàng thƣờng là: - Khủng hoảng kinh tế - Nợ xấu gia tăng - Tỷ lệ an toàn vốn thấp - Thực hiện chức năng trung gian không hiệu quả - Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu - Thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng Từ tất cả các định nghĩa nêu trên, có thể khái quát, tái cơ cấu là các biện pháp để khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngân hàng (các khiếm khuyết này có thể gây ra một cuộc khủng hoảng trên toàn hệ thống ngân hàng cũng nhƣ nền kinh tế) nhằm duy trì sự ổn định và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, ngoài ra còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các biện pháp tái cơ cấu ngân hàng 1. Cơ cấu lại vốn tự có của ngân hàng. Nguồn vốn tự có (hay còn gọi là vốn chủ sở hữu) của các ngân hàng sau khi trích lập dự phòng đầy đủ cho các khoản nợ và giảm giá tài sản là điều khiến chính phủ quan tâm vì đây là căn cứ để đƣa ra các biện pháp cụ thể đối với ngân hàng nhƣ: tăng vốn, cho vay thêm hoặc đề nghị các ngân hàng có mức an toàn vốn thực tế dƣới mức tối thiểu theo luật định phải sáp nhập hoặc giải thể.
4 Luan van Ở các quốc gia nhƣ Mỹ, Châu Âu hoặc một số nƣớc phát triển ở khu vực Châu Á, Chính phủ ƣu tiên thực hiện biện pháp quốc hữu hóa các ngân hàng bằng cách đầu tƣ vào các cổ phần rồi sau đó bán lại cho tƣ nhân khi các ngân hàng đi vào hoạt động ổn định. Với vai trò là cổ đông chính sở hữu phần lớn vốn cổ phần, Chính phủ sẽ yêu cầu các ngân hàng bị quốc hữu hóa thực hiện các chƣơng trình tái cơ cấu tài sản và nguồn vốn. Một ví dụ điển hình là Chính phủ Anh đã mua cổ phiếu của Royal Bank of Scotland và ngân hàng Lloyds năm 2008 khiến cho tỷ lệ sở hữu cổ phần của Chính phủ tƣơng ứng trong hai ngân hàng này là 67% và 43%. Tại Châu Á, các quốc gia nhƣ Indonexia, Hàn Quốc, Thái Lan cũng thực hiện biện pháp này, trong đó tiêu biểu là sự kiện Thái Lan đã mua lại cổ phần của 7 ngân hàng thƣơng mại và 12 công ty tài chính vào năm 1998.
Khi đó, Chính phủ đã yêu cầu các ngân hàng thƣơng mại Thái Lan hạch toán các khoản dự phòng nợ xấu vào khoản mục chi phí để giảm vốn chủ sở hữu. Điều này có lợi cho Chính phủ vì khi đó chỉ cần một lƣợng vốn nhỏ bổ sung vào vốn điều lệ cũng có thể sở hữu một lƣợng cổ phần lớn trong các ngân hàng này, từ đó Chính phủ có quyền lực trong việc điều chỉnh hoạt động của ngân hàng này. Bên cạnh biện pháp quốc hữu hóa, Chính phủ cũng áp dụng các biện pháp kêu gọi các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài tài trợ tăng vốn cho các ngân hàng gặp khó khăn bằng cách đƣa ra các điều kiện có lợi. Hình thức này gọi là vốn đối ứng nhƣng thực chất là đồng tài trợ.
Theo đó, khi nhà đầu tƣ đồng ý bỏ vốn tài trợ cho ngân hàng gặp khó khăn thì Chính phủ cũng cam kết góp vốn vào ngân hàng đó theo một tỷ lệ nhất định với tƣ cách là ngƣời đồng tài trợ thứ hai. Điều này giúp cho Chính phủ chỉ cần bỏ ít vốn, còn nhà đầu tƣ thì có niềm tin trong việc vực dậy ngân hàng. Để khuyến khích các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thì Chính phủ cũng đƣa ra giải pháp “nâng hạn mức sở hữu nƣớc ngoài” lên cao hơn và khoảng thời gian dài hơn. Tuy nhiên, để tránh rủi ro gia tăng do bị các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chi phối thì sau thời gian cam kết ban đầu, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài phải bán lại cổ phần cho các nhà đầu tƣ trong nƣớc để giảm mức sở hữu vốn của nhà đầu tƣ nƣớc 5 Luan van ngoài theo luật định.
Biện pháp này đã đƣợc một số nƣớc áp dụng thành công nhƣ Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil. Năm 1998, Chính phủ Brazil đã nâng hạn mức sở hữu nƣớc ngoài từ 7% (áp dụng từ năm 1994) lên 14% để tăng tài trợ vốn tự có cho các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc.