chương I, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [9] Như vậy, RRTD xảy ra khi khách hàng sai hẹn hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Biểu hiện là: ngân hàng sẽ không thu được lãi đúng hạn, không thu được vốn đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu đủ vốn. Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch tín dụng chỉ được coi là hoàn thành khi ngân hàng thu hồi được khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi.
RRTD luôn tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng chưa thể nói RRTD thấp, nguy cơ RRTD sẽ cao nếu danh mục đầu tư tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc một ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì vậy, ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi ro, luôn chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế tối đa 16 z những thiệt hại tổn thất khi rủi ro xảy ra. Sự cần thiết phải quản lý RRTD RRTD có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khi RRTD xảy ra nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Có thể nói, RRTD giống như là “ngòi nổ” tự mình nó phá hoại và kích nổ sự phá hoại lan truyền [6]. Thứ nhất, RRTD gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng đó là: NHTM và khách hàng. Đối với các khách hàng khi phát sinh RRTD thì phần lớn đều trong tình trạng kinh doanh sa sút hoặc nằm trên bờ vực phá sản …Còn đối với các NHTM, hậu quả to lớn tác động trên nhiều phương diện: Chi phí gia tăng do việc phải trích lập dự phòng tổn thất hoặc các chi phí liên quan trong vấn đề xử lý các khoản rủi ro đó.
Bên cạnh đó, do e ngại rủi ro sẽ làm cho các ngân hàng hạn chế cho vay, doanh thu hạn chế khiến hậu quả kinh doanh giảm, thậm chí bị thua lỗ, uy tín và vị thế trên thị trường giảm sút có thể dẫn đến phá sản. RRTD kéo dài làm thất thoát lượng vốn lớn: Vì ngân hàng có chức năng là đi vay để cho vay, do không thu hồi được nợ trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, mất cân đối trong thu chi làm cho lợi nhuận bị giảm sút và có thể bị rơi vào mất khả năng chi trả thanh toán hoặc có thể trầm trọng hơn thì dẫn đến tình trạng phá sản Thứ hai, RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính của cả quốc gia. Vì giữa các ngân hàng luôn có sự ràng buộc và liên quan với nhau. Sự ràng buộc tất yếu và ngày càng chặt chẽ này mà RRTD có thể châm ngòi cho hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng mà một số trường hợp điển hình là khủng hoảng đã xảy 17 z ra ở Albani, một số nước Đông Nam Á hay Argentina trong thời gian vừa qua.
Nếu một ngân hàng bị phá sản sẽ có những tác động dây chuyền và vô hình chung các ngân hàng khác cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thứ ba, RRTD có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tượng trong xã hội. Vì bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một trung gian tài chính, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế và mang tính xã hội hoá cao nên khi mà RRTD gây nên sự phá sản của một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế mất ổn định, làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực các chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Phân loại rủi ro tín dụng * Căn cứ vào tính chất của rủi ro: RRTD bao gồm: Rủi ro sai hẹn: Đó là RRTD khi người vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết bao gồm gốc và/hoặc lãi vay. Sự sai hẹn này do trễ hạn. Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro mà người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm cả gốc và/hoặc lãi vay * Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro: RRTD bao gồm Rủi ro khách quan: Là những loại rủi ro mà nguyên nhân gây ra nó vượt quá tầm kiểm soát của người vay và người cho vay. Ví dụ như: Do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, khủng hoảng kinh tế, lạm phát, những thay đổi chính sách ở tầm vĩ mô… Rủi ro chủ quan: Đó là những rủi ro do các nguyên nhân thuộc về chủ quan của người cho vay và người vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay.
Đặc điểm của RRTD RRTD có những đặc điểm cơ bản sau: 18 z Thứ nhất: RRTD mang tính chất gián tiếp Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường nắm bắt chậm thông tin về sự khó khăn, thất bại của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của họ điều đó dễ dàng gây ra RRTD. Xuất phát từ đặc điểm này, ngân hàng muốn việc hạn chế RRTD có hiệu quả cần tập trung nghiên cứu thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay vốn. Thứ hai: RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD.
Nó là tất yếu của RRTD, do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối quan hệ gián tiếp với RRTD đối với ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả của RRTD để đưa ra biện pháp phù hợp Thứ ba: RRTD có tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động của NHTM. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Nói cách khác, kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt lợi nhuận tương ứng.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. Mà bất cứ một khoản cấp tín dụng nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với NHTM do bất kỳ nguyên nhân nào. Chính vì vậy, trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cần phải đánh giá và xác định 19 z khoản vay cho phù hợp, chủ động đối phó với rủi ro. Nguyên nhân RRTD RRTD xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro này có nguyên nhân từ nhiều phía: từ phía người cho vay, từ phía người đi vay và từ môi trường bên ngoài. Cụ thể như sau: Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh hay chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá mạo hiểm hoặc tập trung nguồn vốn quá nhiều chủ yếu vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó. Quy trình tín dụng, công cụ đánh giá rủi ro… còn hạn chế, lỏng lẻo, bất cập,…. Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ kịp thời dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý.
Do cạnh tranh các ngân hàng mong muốn có chiếm được thị trường cao hơn các ngân hàng khác nên mở rộng cho vay và đầu tư mạo hiểm, chạy theo quy mô số lượng mà bỏ qua các tiêu chuẩn điều kiện trong cho vay, không chú ý đến chất lượng. Do trình độ của CBNV, sự tuân thủ và ý thức và trách nhiệm của CBNV: Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tế. Vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Ý thức tuân thủ kém hoặc không tuân thủ, không chấp hành các quy trình và chính sách cho vay của ngân hàng.
Định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc tài sản nhận đảm bảo không đảm bảo được các yêu cầu cần thiết của tài sản đảm bảo là: dễ tiêu thụ, dễ chuyển nhượng… Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng Sử dụng vốn vay không đúng mục đích, kém hiệu quả. 20 z Do kinh doanh yếu kém không hiệu quả dẫn đến nguồn trả nợ ngân hàng bị ảnh hưởng. Chủ doanh nghiệp thiếu năng lực điều hành quản lý và kinh doanh. Mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, ban điều hành….
Các nguyên nhân khác liên quan đến môi trường bên ngoài Đó là những nguyên nhân bất khả kháng vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay. Nhóm nguyên nhân này là do các nhân tố khách quan gây nên như môi trường kinh tế, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội (Ví dụ như do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…); khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường…; những chính sách thay đổi ở tầm vĩ mô vượt quá tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách hàng.