Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHUC HOI HOAT ĐỘNG KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP LAM VAO TINH TRANG PHA SAN 1.1 Khái niệm phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tinh trạng phá sản 1.1 Khái niệm phục héi doanh nghiệp Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh. Trên thế giới, pháp luật phá sản được xây dựng theo hai xu hướng khác nhau. Xu hướng thứ nhất có mục tiêu là “hướng vào người mắc nợ”- tức là tập trung vào việc cứu các công ty thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, bảo đảm việc làm cho người lao động thông qua việc tổ chức lại công ty. Xu hướng thứ hai có mục tiêu “hướng vào chủ no”[16, tr.
Trong điều kiện nên kinh tế toàn cầu ngày nay, pháp luật phá sản thế giới có xu hướng kết hợp cả hai mục tiêu này, tức là pháp luật về phá sản không những bảo vệ lợi ích của chủ nợ mà quyền lợi của con nợ cũng được bảo vệ một cách tối ưu. Vì thế, hiện nay nhiều nước đang tiến hành cải cách pháp luật về phá sản theo hướng khi tiến hành xử lý phá sản doanh nghiệp, mục đích cần đạt được không phải là tiễn tới thanh lý doanh nghiệp mà còn qui định một trình tự thủ tục nhằm cứu vãn chúng. Phục hồi theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Da Nẵng 2003 được hiểu là khôi phục cái đã mắt di. Cũng theo từ dién này, khôi phục được hiểu là Jam cho có lại được hay trở lại được như cũ sau một thời gian bị sút kém.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2 thì phục hồi hay hồi phục đều được hiểu là “thiét lập lại cân bang” về một điều gì đó [25, tr. Tuy nhiên, cả hai định nghĩa trên chỉ là định nghĩa trong ngôn ngữ phổ thông mà không phải là định nghĩa trên phương diện pháp lý của khái niệm phục hồi. Dưới góc độ kinh tế học, “phục hồi doanh nghiệp” được hiểu là giải pháp phù hợp nhất để đưa doanh nghiệp vượt qua tình trạng khó khăn. Phục hồi doanh nghiệp được xem xét ở hai góc độ.
7 nhát, từ góc độ từng doanh nghiệp, phục hồi là quá trình chuyên hóa trạng thái từ trì trệ, thu hẹp quy mô sản xuất, kinh doanh trở lại quy mô bình thường và ôn định như trước suy giảm. Thi? hai, từ góc độ cả khu vực doanh nghiệp, nghĩa là tất cả doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề, quy mô và thành phần, phục hồi thé hiện ở sự xuất hiện các doanh nghiệp mới dé đảm bảo tính nguyên vẹn của số lượng doanh nghiệp như trước hoặc gia tăng số lượng. Việc phục hồi, do đó, chịu tác động của các yếu tố nội tại doanh nghiệp cũng như tác động của môi trường kinh doanh [18]. Như vậy, phục hồi doanh nghiệp thông thường là sự chuyền hóa từ tình trạng làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả trở lại trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, ôn định như trước khi suy giảm.
Phục hồi doanh nghiệp thông thường được đặt ra khi doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, do doanh nghiệp chủ động thực hiện dé thoát khỏi tình trạng khó khăn.2 Khái niệm phục héi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Dé hiểu khái niệm “phục hồi” trong pháp luật về phá sản chúng ta sẽ xem xét nó trên phương diện pháp lý gắn với một giai đoạn trong thủ tục phá sản là phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Cho đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống văn bản về pháp luật phá sản Việt Nam chưa xây dựng khái niệm pháp lý về phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Song, trong một số công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra một vài cách hiểu khác nhau về khái niệm “phục hồi”. Theo tác giả Ngô Cường, “phục hồi là đem lại cho con nợ đang trong tình trạng khó khăn những điều kiện và cơ hội tiếp tục kinh doanh chứ không phải là thanh toán con nợ đó” [9, tr.
Với cách hiểu này, tác giả đồng thời chỉ ra ba dấu hiệu đặc trưng của việc phục hồi doanh nghiệp mac nợ, đó là: - _ Đối tượng áp dụng của phục hồi là những con nợ nằm trong tình trạng khó khăn vẻ tài chính; - __ Trong tiến trình phục hồi không có sự thanh lý tài sản của con nợ; - - Mục đích của việc phục hồi là nhằm tạo điều kiện cho con nợ được tiếp tục hoạt động kinh doanh. Khái niệm “phục hồi” của tác giả Ngô Cường đã giúp chúng ta hình dung ra bản chất của phục hồi. Tuy nhiên khái niệm này vẫn chưa chỉ ra được những dấu hiệu pháp lý cơ bản của phục hồi doanh nghiệp như: chưa nêu ra được đối tượng áp dụng phục hồi là những doanh nghiệp nào, chưa phân biệt được thủ tục phục hồi doanh nghiệp với tự phục hồi doanh nghiệp. Cũng với mục đích xây dựng khái niệm phục hồi doanh nghiệp, giáo sư luật học Gérard Cornu, trường Đại học tổng hợp Monpelllier trong cuốn Từ điển luật học của mình do Nhà xuất bản Association Henri Capitant xuất bản năm 2000 đã định nghĩa: “phục hồi doanh nghiệp mắc nợ trên phương diện pháp lý là một thủ tục được mở cho mọi doanh nghiệp của luật tư năm trong tình trạng ngừng thanh toán các khoản nợ nhằm cho phép cứu vãn doanh nghiệp, duy trì hoạt động của các doanh nghiệp và việc làm cũng như hoàn trả được các khoản nợ” [10].
Như vậy, với định nghĩa này, giáo sư Gérard Cornu cũng đã chỉ ra cho chúng ta thấy được ba đặc trưng của việc phục hồi doanh nghiệp là: - Phuc hồi doanh nghiệp là một thủ tục luật định; - Đối tượng áp dụng là những doanh nghiệp ngừng thanh toán các khoản nợ đến hạn; - - Mục đích của việc phục hồi là cứu van, duy trì hoạt động của doanh nghiệp và hoàn trả các khoản nợ. Qua hai định nghĩa nói trên, có thể thấy, khi đưa ra khái niệm phục hồi doanh nghiệp mắc nợ các nhà khoa học đã dựa vào ba yếu tô là: coi phục hồi là một thủ tục do pháp luật quy định; hết hạn thanh toán nợ; mục đích phục hồi. Tuy nhiên cũng như khái niệm phục hồi của tác giả Ngô Cường, khái niệm phục hồi nêu trên chưa chỉ ra được đặc trưng pháp ly của phục hồi là một thủ tục do tòa án tiến hành. Ngoài ra, cả hai định nghĩa nói trên đều chưa nói đến trường hợp phá sản đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công hoặc hoạt động trong lĩnh vực đặc thù, cũng như phá sản cá nhân như cho thấy trong quy định của một số nước trên thé giới.
Như vậy, từ những điểm tương đồng trong nghiên cứu của các học giả trên cũng như quy định của pháp luật phá sản, “phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trang phá sản” được thể hiện thông qua các dau hiệu pháp lý đặc trưng là: 10 Thr nhất, phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một thủ tục luật định do tòa án tiến hành; Thứ hai, đôi tượng áp dụng của phục hồi là những con nợ nằm trong tình trạng khó khăn về tài chính hay những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; Thứ ba, trong tiên trình phục hồi không có sự thanh lý tài sản của con nợ; Ther tu, mục đích của việc phục hồi là nhằm cứu vãn, duy trì hoạt động của doanh nghiệp và hoàn trả nợ cho các chủ nợ. Từ những phân tích nêu trên và căn cứ vào quy định của pháp luật phá sản Việt Nam, có thé đưa ra khái niệm phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng pha sản như sau: Phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục do tòa án có thâm quyên áp dung trong thời hạn nhất định dưới sự giảm sát của hội nghị chủ nợ, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản và sự đồng ý của hội nghị chủ nợ, nhằm giúp doanh nghiệp mắt khả năng thanh toán nợ sau khi áp dụng các biện pháp can thiết phục hôi được hoạt động kinh doanh, thanh toan được các khoản nợ đến hạn. Hết thời hạn phục hôi, nếu doanh nghiệp mắt khả năng thanh todn nợ không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc đã thực hiện phương án phục hôi hoạt động kinh doanh do hội nghị chủ nợ thông qua và được tòa án công nhận nhưng vẫn không thanh toán được nợ thì tòa an mở thủ tục thanh ly tài san.2 Đặc điểm pháp lý của thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Thứ nhất, phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là thủ tục được điều hành bởi tòa án. Thực tiễn đã hình thành những thủ tục giải quyết tình trạng làm ăn thua lỗ đa dạng và hiệu quả, thé hiện sự linh hoạt, mềm dẻo của thị trường và khi cần thiết thì có sự điều chỉnh, can thiệp của Nhà nước.
Trên thế giới, người ta phân biệt hai thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ, bao gồm thủ tục chính thức và thủ tục không chính thức [29, tr. Theo đó, thủ tục phục hồi không chính thức là thủ tục giải 11 quyết tình trang phá sản không có sự can thiệp của tòa án mà dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa người mắc nợ và chủ nợ dé tìm ra những giải pháp khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán như: cơ cấu lại sản phẩm, chủ nợ sẽ đầu tư thêm hoặc kêu gọi đối tác của chủ nợ đầu tư, thay đổi người quản lý. Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn tố tụng dân sự ở nước ta quá trình này thường được gọi là thủ tục tiền tố tụng. Thủ tục phục hồi chính thức là những thủ tục giải quyết tình trạng phá sản được điều chỉnh bằng pháp luật và thông qua tòa án.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tinh trang phá sản với tư cách là một chế định trong Luật Phá sản do Nhà nước ban hành là một thủ tục chính thức. Pháp luật của tất cả các quốc gia đều giống nhau khi quy định tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi cũng như các quyết định khác có liên quan đến thủ tục phục hồi và đảm bảo các quyết định đó được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi quốc gia mà thâm quyền điều hành của tòa án đối với thủ tục phục hồi doanh nghiệp được quy định không giống nhau.