Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp và thành lập doanh nghiệp 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp được coi là chủ thể giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sức tăng trưởng của nền kinh tế và sự tồn tại của xã hội.
Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán [27]. Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Đến Luật doanh nghiệp năm 2015 thì doanh nghiệp được hiểu là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [khoản 7, Điều 4]. Khái niệm doanh nghiệp theo đó được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ.
Như vậy, một trong những dấu hiệu pháp lý quan trọng của doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, phải được đăng ký thành công theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, doanh nghiệp được coi là những thực thể xã hội, có chức năng chủ yếu là thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiếu yếu tố như cơ sở vật chất (vốn, tài sản), có trụ sở giao dịch, bộ máy quản lý điều hành, người lao động,… Với chức năng kinh doanh, 7 doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như của toàn xã hội. Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp Dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý quan trọng sau đây: Thứ nhất, doanh nghiệp là một chủ thể pháp luật, trước hết là chủ thể của pháp luật kinh tế.
Với tư cách là một chủ thể pháp luật độc lập, doanh nghiệp có năng lực tham gia vào các quan hệ pháp luật, đặc biệt là trong các quan hệ kinh doanh. Tính chất độc lập về mặt tư cách chủ thể pháp lý giúp cho doanh nghiệp có quyền tự chủ trong các quan hệ kinh doanh, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức và hoạt động của mình. Thứ hai, doanh nghiệp xác lập tư cách pháp lý theo thủ tục do pháp luật quy định, đó là thủ tục thành lập doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ yêu cầu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh.
Thông qua việc thành lập doanh nghiệp, cơ quan quản lý có thông tin về doanh nghiệp, qua đó nắm bắt được thông tin các doanh nghiệp đủ điều kiện để hoạt động và loại bỏ những chủ thể không đủ tư cách pháp lý tham gia kinh doanh. Thứ ba, doanh nghiệp phải có tài sản độc lập. Để tham gia vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải có tài sản riêng của mình (tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền và các quyền tài sản), nghĩa là doanh nghiệp phải có quyền chiếm hữu (hoặc quản lý), sử dụng, định đoạt tài sản đó cũng như có quyền điều phối khối tài sản này theo nhu cầu sản xuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trước pháp luật. Tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu để doanh nghiệp thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Thứ tư, doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận với tư cách là một thực thể tham gia thị trường. Trong phạm vi luận văn này, về phương diện pháp luật kinh tế, tác giả xin phép không bàn đến những doanh nghiệp hoạt động phi lợi nhuận. Khái quát về thành lập doanh nghiệp 1. Khái niệm thành lập doanh nghiệp Để khởi sự kinh doanh, các nhà đầu tư sau khi tìm hiểu thị hiếu khách hàng tiềm năng, chọn địa điểm kinh doanh, tìm nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp để phục vụ cho dự án kinh doanh,.
sẽ tiến hành các thủ tục thành lập doanh nghiệp. Dưới góc độ kinh tế, thành lập doanh nghiệp được hiểu là việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ như trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kĩ thật, đội ngũ nhân công, nhà quản lý,… để hình thành nên một tổ chức kinh doanh [27] ]. Đây là công đoạn đầu tiên và cũng là công đoạn quan trọng trong toàn bộ quá trình đầu tư, để hình thành thực thể kinh doanh của các nhà đầu tư trong suốt quá trình đầu tư của mình. Dưới góc độ pháp lý, thành lập doanh nghiệp là một thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hợp pháp hóa sự ra đời của doanh nghiệp.
Thủ tục thành lập doanh nghiệp hiện nay được hiểu là thủ tục đăng ký kinh doanh. Đăng ký kinh doanh là một thuật ngữ pháp lý nhưng trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế thì thuật ngữ đăng ký kinh doanh cũng được hiểu và thể hiện khác nhau, được hiểu là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh [27]. Điều kiện thành lập doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, để được thành lập doanh nghiệp cần phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể thành lập doanh nghiệp, điều kiện về các ngành nghề kinh doanh và một số các điều kiện khác, cụ thể như sau: - Về chủ thể thành lập doanh nghiệp: Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có quyền thành lập doanh nghiệp, trừ những trường hợp sau: 9 + Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thanh lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; + Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; + Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những trường hợp được cử là đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; + Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo quỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp khác; + Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; + Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng. Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Điều kiện về ngành nghề kinh doanh: Doanh nghiệp có quyền kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm, doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành nghề đã được đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngành nghề cấm kinh doanh là các ngành nghề có khả năng phương hại đến quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã hội, văn hóa;… hay các ngành nghề bị cấm được quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014 như: 10 Cấm kinh doanh mại dâm; Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người;…. - Điều kiện về vốn pháp định: Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp, được quy định chỉ với một số ngành nghề. Ví dụ đối với ngân hàng chính sách điều kiện về vốn pháp định quy định là 5000 tỷ; dịch vụ đòi nợ, dịch vụ bảo vệ điều kiện về vốn pháp định quy định là 2 tỷ.
- Điều kiện về năng lực chuyên môn: Tùy từng ngành nghề, pháp luật sẽ có quy định riêng về điều kiện hành nghề của lĩnh vực đó. Ví dụ như luật sư muốn hành nghề phải có thẻ luật sư, dược sĩ bán thuốc yêu cầu phải có bằng cử nhân dược,… - Điều kiện về tên doanh nghiệp: Tên doanh nghiệp không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với doanh nghiệp khác đã đăng ký trên cùng địa bản tỉnh, thành phố (đáp ứng các điều kiện theo quy định Điều 39, 40, 41, 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014). - Trụ sở doanh nghiệp sau khi thành lập: Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có). - Các điều kiện khác: phải có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ; nộp lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy định pháp luật về phí và lệ phí;.
Ý nghĩa của việc thành lập doanh nghiệp Việc thành lập doanh nghiệp được pháp luật doanh nghiệp quy định cụ thể và có các ý nghĩa pháp lý cụ thể như sau: 11 - Đối với nhà nước, việc quy định về thành lập doanh nghiệp thể hiện sự bảo hộ của nhà nước bằng pháp luật đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh nói chung và các chủ doanh nghiệp nói riêng. Đồng thời, nhà nước thực hiện chức năng quản lý cơ cấu các thành phần kinh tế xã hội, kiểm soát các hoạt động kinh doanh theo đường lối đã vạch ra.