Chương 1 KHÁI LUẬN VE THÀNH LAP VÀ VẬN HANH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 1. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa và các đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 1. Khái niệm, vai trò vàý nghĩa của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cho đến năm 1999, công ty TNHHMTV chỉ được những người nghiên cứu luật biết tới, còn nó không xuất hiện trong pháp luật Việt Nam. Ngay giáo trình dạy luật kinh tế không gdp nó vao trong định nghĩa về công ty khi lý giải như sau: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân bằng một sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành để đạt được một mục tiêu chung nào đó” [10, tr.
Lý giải này đã không coi các doanh nghiệp nha nước lúc đó là công ty vì hầu hết các doanh nghiệp đó đều có tư cách pháp nhân, đều có một chủ sở hữu là Nhà nước và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp vào doanh nghiệp đó. Như vậy không có sự liên kết nào như mô tả của dinh nghĩa khái nệm bên trên. Sự phân biệt tên gọi “doanh nghiệp nhà nước” với “công ty” trong giáo trình nay cho thay một quan niệm không chuẩn xác về công ty. Về chức năng chúng hoan toàn giống nhau nhưng chỉ khác nhau về chủ sở hữu một đằng do nhà nước làm chủ sở hữu, còn đăng khác thì do các tư nhân làm chủ sở hữu.
Vì vậy lý giải về công ty của giáo trình nói trên không bao quát được công ty mà chỉ diễn giải lại luật thực định lúc đó bao gồm Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Công ty. Công ty nói chung trước hết là một thực thê kinh doanh (còn gọi là chủ thể kinh doanh) do một hoặc nhiều người góp vốn tạo lập nên theo những hình thức nhất định và được pháp luật qui định hay thừa nhận, bao gồm: công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty cổ phần (nhiều thành viên và một thành viên), công ty trách nhiệm hữu hạn (nhiều thành viên và một thành viên), công ty hợp vốn cô phan. Xét về mặt bản chất pháp lý, Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành định nghĩa: Công ty do hai hay nhiều người thành lập trên cơ sở thỏa thuận bang hợp đồng, sử dụng tài sản hoặc công nghệ của mình vào việc kmh doanh chung nhằm chia lãi hoặc thu lợi nhuận. Trong trường hợp do pháp luật qui định, công ty có thể do một người thành lập [3, Điều 1832].
Công ty có bản chất là một hành vi pháp lý, có nghĩa là công ty một thành viên là hành vi pháp lý đơn phương, còn công ty nhiều thành viên là một hợp đồng [7, tr. Xét từ đây, công ty không thay đổi ban chất pháp lý bởi người tạo lập nên nó là Nhà nước hay tư nhân hoặc cả Nhà nước hoặc tư nhân cùng nhau tạo lập. Tuy nhiên, nếu vốn hoàn toàn thuộc Nhà nước hoặc quyền kiểm soát công ty thuộc Nha nước hoặc do yêu cau đặc biệt, thì pháp luật có thể có những qui chế riêng để điều chỉnh, ngoài những qui chế chung cho tất cả các loại công ty. Thế nhưng để hiểu rõ hơn về công ty TNHHMTV, thì trước hết chúng ta phải xem xét tới công ty trách nhiệm hữu hạn truyền thống (tức là công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên) vì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một di tướng của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên.
Việc thừa nhận hình thức công ty TNHHMTV là cả một quá trình tranh luận dài ở nước ta, cho đến nay vẫn chưa phải đã có nhận thức hoàn toàn day đủ về nó. Mô hình công ty TNHH nói chung tương đối giống nhau ở các nước. Nói một cách khái quát, công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty gồm ít nhất hai thành viên góp vốn thành lập, và các thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong giới hạn phần vốn góp của mình vào công ty. Các thành viên góp vốn này không kê là thé nhân hay pháp nhân, không kế pháp nhân đó là pháp nhân tư hay pháp nhân công quyền.
Như vậy, theo quan điểm truyền thống thì công ty trách nhiệm hữu hạn phải có ít nhất hai thành viên góp vốn thành lập. Về mặt lý thuyết truyền thống, công ty có các dấu hiệu pháp lý cơ bản như sau: - Có sự liên kết của hai hoặc nhiều người; - Sự liên kết thông qua một sự kiện pháp lý như xác lập điều lệ, hợp đồng thành lập; Nhăm thực hiện một mục đích chung là lợi nhuận [10, tr. - Sự kiện pháp lý xác lập điều lệ có thé hay hợp đồng thành lập nói trong các dấu hiệu pháp lý này chưa thật sát với khoa học pháp lý. Một công ty được thành lập có thể do ý chí của tư nhân hoặc do ý chí của Nhà nước.
Thông thường tư nhân thỏa thuận với nhau thành lập công ty va đăng ký dé được hoạt động. Nhà nước có thê bằng quyết định hành chính hoặc văn bản qui phạm pháp luật tạo lập ra công ty và cho phép hoạt động hoặc có khi phải đăng ký sau khi có quyết định thành lập. Quyết định hành chính hoặc văn bản qui phạm pháp luật này có thé ban hành điều lệ công ty kèm theo hoặc không. Điều lệ của công ty này có thé được soạn thảo sau đó dé được phê duyệt hay phê chuẩn hoặc được ban hành bởi một văn bản hành chính hoặc văn bản qui phạm pháp luật khác.
Công ty TNHH chiếm đa phan trong các công ty mới được thành lập gần đây tại Việt Nam. Vậy có nghĩa là công ty TNHH nói chung chiếm được cảm tinh của những nhà đầu tư. Chắc han nó có nhiều lợi thé. Khác với nhiều loại hình công ty khác, công ty TNHH là sản phẩm của hoạt động lập pháp.
Năm 1892, các nhà làm luật Đức đã đưa ra mô hình công ty TNHH với những lập luận như sau: Thứ nhất, mô hình công ty cô phần đang tồn tại lúc đó không thích hợp với qui mô kinh doanh nhỏ và vừa. Cac qui định qua phức tạp cho loại hình công ty cổ phan không thật sự cần thiết với qui mô kinh doanh mà có rat ít thành viên tham dự và thường là đã quen biết nhau; Thứ hai, chễ độ trách nhiệm vô hạn của các công ty đối nhân không thích hợp với tất cả các nhà đầu tư muốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu han để tránh rủi ro lớn [11, tr. Việc sáng tạo ra loại hình công ty TNHH, vừa kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty cổ phần và ưu điểm về chế độ thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân. Nhà đầu tư có thể kinh doanh ở qui mô nhỏ và vừa.
Nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành lập và điều hành công ty cô phần và nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân. Công ty TNHH vừa mang đặc điểm của công ty đối nhân, vừa mang đặc điểm của công ty đối vốn. Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm về các khoản nợ chỉ bằng tài sản của công ty. Thành viên công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào công ty.
Nếu công ty bị tuyên bố phá sản, thì thành viên công ty cũng không bị ảnh hưởng nhiều. Họ có thể chỉ bị mất phần vốn góp vào công ty mà không phải lay tài sản riêng dé trả nợ thay cho công ty [1], tr. Với những ưu điểm như vậy, hình thức công ty TNHH đã được đa số các nhà đầu tư lựa chọn. Công ty TNHH không chỉ được công nhận rộng rãi ở Việt Nam, mà còn được hầu hết các nước trên thé giới áp dụng.
Từ khi có luật công ty đến nay số lượng công ty TNHH được thành lập nhiều hơn hắn công ty cô phần. Công ty TNHH chiếm một vị trí hết sức quan trọng trên thương trường và trong nền kinh tế quốc dân. Người ta cho rằng công ty TNHH và công ty vô danh đã gây dựng nên chế độ tư bản hiện thời ở các quốc gia Âu, Mỹ. Do sự phát triển ngày một lớn mạnh của các công ty và nhu cầu điều chỉnh công ty, pháp luật công ty đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Lịch sử luật công ty gắn liền với các quy định về liên kết, hợp đồng và các quan hệ nợ nần của Luật La Mã cô đại. Sự phát triển của luật công ty hiện nay, cũng như sự ra đời của nhiều mô hình công ty trên thế giới đã thé hiện tu tưởng tự do kinh doanh. Công ty TNHH được chia thành hai loại: công ty TNHHNTV va công ty TNHHMTV. Nhận xét sơ bộ, công ty TNHHMTV thiếu dấu hiệu về sự liên kết giữa các thành viên như định nghĩa công ty ở trên, vì nó chỉ có một thành viên duy nhất.
Dạng công ty này không phải là dạng công ty truyền thống. Có thé lý do ra đời của dạng công ty này hoàn toàn do kết quả hoạt động đặc biệt của công ty TNHHNTV. Chang hạn, khi toan bộ sản nghiệp của một công ty TNHHNTV nao đấy, vì những lý do nhất định, đã chuyển vao tay một thành viên duy nhất như trường hợp toàn bộ thành viên chuyển nhượng tài sản của mình vì không muốn kinh doanh nữa cho một thành viên duy nhất còn lại của công ty. Đối với trường hợp nay, nếu công ty vẫn hoạt động tốt, thì pháp luật nhiều nước vẫn cho nó tồn tại dưới hình thức cũ mà không bắt phải giải thé hay chuyên đổi hình thức.
Và công ty đó, từ chỗ có nhiều chủ sở hữu đã trở thành công ty một chủ khi mà thành viên duy nhất đó vẫn có khả năng tiếp tục duy tri, phát triển công ty. Khi đó, công ty trở thành công ty TNHHMTV và pháp luật thừa nhận thành viên đó vẫn có quyền được giải phóng khỏi trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm thuộc về công ty với tư cách là một pháp nhân độc lập. Sau này, trong quá trình phát triển, đã có nhiều công ty TNHH là của một chủ sở hữu ngay từ khi thành lập. Cách xử lý van đề này ở nhiều nước có khác nhau.
Trong hệ thống pháp luật của Đức, Ác- hen- ty- na. đều có loại hình công ty TNHHMTV ngay rất sớm.