CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG CUNG ỨNG NHIÊN LIỆU HÀNG KHÔNG 1. Tổng quan về logistics 1. Khái niệm Logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilạp - logistikos - phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics, được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu khác nhau về logistics.
- Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, trong đó nêu rõ: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. - Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch, tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị. - Theo Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. - Theo Hội đồng quản trị logistics (Council of Logistics Management - CLM) - 1991: Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản 6 xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng.
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các nhập lượng đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn, vật tư, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết và công nghệ. Các hoạt động này cũng được phối kết trong một chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp từ tầm hoạch định đến thực thi, tổ chức và triển khai đồng bộ từ mua, dự trữ, tồn kho, bảo quản, vận chuyển đến thông tin, bao bì, đóng gói…Và chính nhờ vào sự kết hợp này mà các hoạt động kinh doanh được hỗ trợ một cách tối ưu, nhịp nhàng và hiệu quả, tạo ra được sự thoả mãn khách hàng ở mức độ cao nhất hay mang lại cho họ những giá trị gia tăng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh.1: Quy trình dịch vụ logistics Tạp chí giao thông, Thực trạng loại hình vận tải đa phương thức trong ngành Dịch vụ logistics tại Việt Nam, tại địa chỉ: http://www.vn/thuc-trang-loai-hinh- van-tai-da-phuong-thuc-trong-nganh-dich-vu-logistics-tai-viet-nam-d32551.html, truy cập ngày 28/3/2019 7 Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (nhất là đơn vị sản xuất) cần phải quản trị dòng chảy Logistics liên quan đến dòng chảy nguyên vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà máy, dòng chảy nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất tại nhà máy và dòng chảy của hàng hóa từ nhà máy đến người sử dụng (có thể là người sản xuất khác hoặc người tiêu dùng cuối cùng). Trong dòng chảy này thì dòng chảy trong nhà máy gọi là logistics nội biên (không thuê ngoài) còn dòng chảy nguyên vật liệu từ các nhà cung ứng đến nhà máy và dòng chảy hàng hóa từ nhà máy đến người sử dụng được gọi là logistics ngoại biên.
Để tập trung nguồn lực cho sản xuất các doanh nghiệp thường thuê ngoài thực hiện logistics ngoại biên. Đó chính là dịch vụ logistics theo định nghĩa trong Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005. Phân loại logistics 1. Theo hình thức - First Party Logistics (1PL): Logistics bên thứ nhất là việc người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân.
- Second Party Logistics (2PL): Logistics bên thứ hai là việc một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động thuộc về logistics (vận tải, kho bãi, thanh toán, thủ tục hải quan…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics. - Third Party Logistics (3PL): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. - Fourth Party Logistics (4PL): Logistics bên thứ tư là việc một doanh nghiệp tích hợp (hợp nhất) gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL - Fifth Party Logistics (5PL): Gần đây, cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái niệm Logistics bên thứ 5 (5PL).
5PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử. Chìa khoá thành công của các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ năm là các hệ thống: Hệ thống quản lý đơn hàng (OMS), Hệ 8 thống quản lý kho hàng (WMS) và Hệ thống quản lý vận tải (TMS). Cả ba hệ thống này có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệ thống thống nhất và công nghệ thông tin. Theo quá trình - Logistics đầu vào (Inbound logistics): là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn…) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
Xét về các hoạt động thì logistics đầu vào bao gồm các hoạt động liên quan đến việc tiếp nhận, dự trữ, phân phối các nguồn lực đầu vào để sản xuất ra sản phẩm. - Logistics đầu ra (Outbound logistics): là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Quy trình này diễn ra từ lúc kết thúc quá trình sản xuất đến khi sản phẩm được người tiêu dùng cuối cùng sử dụng. - Logistics ngược (Reverse logistics): là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
Theo phạm vi - Logistics kinh doanh (Bussiness logistics): là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng. - Logistics quân sự (Military logistics): thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các trang thiết bị quân sự cần thiết cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội, đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này. - Logistics sự kiện (Event logistics): tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, lên chương trình và triển khai các nguồn lực cho một sự kiện diễn ra và kết thúc tốt đẹp. 9 - Dịch vụ logistics (Service logistics): bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh doanh.
Theo đối tượng hàng hóa Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sản phẩm. Do đó các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động logistics không giống nhau. Điều này cho phép các ngành hàng khác nhau có thể xây dựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hóa hoạt động logistics theo đặc trưng riêng của loại sản phẩm tùy vào mức độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các đối tượng hàng hóa khác nhau như: Logistic hàng tiêu dùng ngắn ngày, Logistic ngành ô tô, Logistic ngành hóa chất, Logistic hàng điện tử, Logistic ngành dầu khí v. Vai trò logistics 1.
Đối với nền kinh tế Phát triển dịch vụ logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia. Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiện nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn. Điều này đã làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Những nước kết nối tốt với mạng lưới dịch vụ logistics toàn cầu thì có thể tiếp cận được nhiều thị trường và người tiêu dùng từ các nước trên thế giới.
Phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh tế. logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Mỹ và Nhật logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể cao hơn 30%.
Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Đối với doanh nghiệp Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp.