Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành logistics giữ vị trí thiết yếu trong nền kinh tế hiện đại thông qua việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng, từ thu mua, lưu kho bãi, luân chuyển nguyên vật liệu đến phân phối thành phẩm và hỗ trợ sau bán hàng. Tại Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế, việc ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới cùng sự bùng nổ của thương mại điện tử đã thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu dịch vụ vận tải và logistics. Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) của Việt Nam năm 2018 xếp thứ 39/160 quốc gia, tăng 25 bậc so với năm 2016; bảng xếp hạng Agility 2022 cũng xếp thị trường logistics Việt Nam đứng thứ 11 trong nhóm 50 thị trường mới nổi.

Mặc dù vậy, ngành logistics Việt Nam nói chung và khu vực Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) nói riêng vẫn đối mặt với nhiều bất cập: hệ thống hạ tầng giao thông chưa thực sự đồng bộ, tỷ trọng đường sắt và đường thủy còn thấp, chi phí logistics trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) còn cao, dịch vụ phân tán, quy mô doanh nghiệp nội địa nhỏ và trình độ ứng dụng số hóa chưa đồng đều. Nhằm nhận diện và lượng hóa các yếu tố tác động đến nhu cầu logistics cấp địa phương, tác giả Lưu Thị Ngọc Trâm (Khoa Thống kê, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp: "Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu logistic của các tỉnh, thành phố khu vực Đồng Bằng Sông Hồng giai đoạn 2013 - 2021", dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Nga.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Tổng quan tài liệu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về logistics và nhu cầu logistics trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng phát triển ngành logistics và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội đến nhu cầu logistics tại các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSH giai đoạn 2013–2021 bằng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian.
  3. Kiến nghị các giải pháp chính sách và định hướng thực tiễn nhằm giúp các doanh nghiệp và cơ quan quản lý địa phương tối ưu hóa hoạt động logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế số.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến nhu cầu logistics (đo lường qua khối lượng hàng hóa vận chuyển).
  • Phạm vi không gian: 11 tỉnh, thành phố trực thuộc khu vực Đồng bằng Sông Hồng, bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 9 năm từ 2013 đến 2021.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chỉ tiêu kinh tế lượng định lượng cấp tỉnh, áp dụng mô hình véc tơ tự hồi quy (VAR/PVAR) để phân tích động thái phản ứng và phân rã phương sai của nhu cầu logistics.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài tiếp cận khái niệm logistics theo các chuẩn mực học thuật và pháp lý: định nghĩa của Hội đồng Quản trị Logistics (CLM, 2002), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (xác định dịch vụ logistics là hoạt động thương mại bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, đóng gói, ghi nhãn và giao hàng).

Khung phân tích định lượng của nghiên cứu kế thừa mô hình của Nguyễn Đoan Trang và Lê Thị Minh (2022) từ Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), kết hợp nghiên cứu của Hongjiang Maa và Xu Luob (2021) về nhu cầu logistics cấp vùng. Nhu cầu logistics được đại diện bởi chỉ tiêu Khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo địa phương (KLHH).

Ký hiệu biến Tên biến chỉ tiêu Đơn vị tính Kỳ vọng dấu Nguồn dữ liệu
KLHH Khối lượng hàng hóa vận chuyển địa phương (Biến phụ thuộc) Nghìn tấn N/A Niên giám thống kê các tỉnh/TP
GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành Nghìn tỷ đồng (+) Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê địa phương
XK Trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo địa phương Nghìn tỷ đồng (+) Hệ thống CSDL Thống kê ngành Công Thương
NK Trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo địa phương Nghìn tỷ đồng (+) Hệ thống CSDL Thống kê ngành Công Thương
FDI Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép Nghìn tỷ đồng (+) Niên giám thống kê các tỉnh/TP
TMBL Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Nghìn tỷ đồng (+) Niên giám thống kê các tỉnh/TP
DS Quy mô dân số trung bình địa phương Nghìn người (+) Niên giám thống kê các tỉnh/TP
DTC Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước Nghìn tỷ đồng (+) Niên giám thống kê các tỉnh/TP

Quy trình phương pháp luận kinh tế lượng gồm các bước:

  1. Kiểm định tính dừng: Áp dụng kiểm định nghiệm đơn vị dạng bảng Individual root Fisher - ADF trên chuỗi gốc và sai phân bậc 1 logarit.
  2. Xác định độ trễ tối ưu: Dựa trên các tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike), SC (Schwarz), HQ (Hannan-Quinn), FPE và LR.
  3. Kiểm định nhân quả Granger (Granger Causality): Xác định chiều hướng tương tác và khả năng dự báo giữa biến nhu cầu logistics và các biến giải thích.
  4. Kiểm định tính phù hợp và ổn định của mô hình: Đánh giá vị trí đa thức đặc trưng (Inverse Roots of AR Characteristic Polynomial), kiểm định tự tương quan nhân tử Lagrange (LM Test), kiểm định phương sai sai số thay đổi White (White test no cross terms).
  5. Ước lượng mô hình tự hồi quy VAR, phân tích hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai (Variance Decomposition) theo phương pháp phân rã Cholesky.

Bộ dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng cân đối gồm 99 quan sát (11 tỉnh/thành phố $\times$ 9 năm).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu Logistics của các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Sông Hồng

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị logistics đối với nền kinh tế quốc dân (thúc đẩy lưu thông thương mại, kết nối thị trường, nâng cao hiệu quả vĩ mô) và đối với doanh nghiệp (tối ưu chi phí tồn kho, đảm bảo chất lượng dòng đầu vào - đầu ra, nâng cao năng lực giao hàng).

Tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế điển hình tại Trung Quốc (Guo-en Xia và cộng sự, 2016 tại Quảng Châu; Ying Sun và cộng sự, 2011 tại Đông Bắc; Hongjiang Maa & Xu Luob, 2021 tại Trùng Khánh; XiaoYe Zhou và cộng sự, 2011 tại Thẩm Dương). Tại Việt Nam, tác giả điểm qua nghiên cứu của Đặng Đình Đào (2011), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) tại ĐBSCL, báo cáo thường niên của Bộ Công Thương (2016–2021) và nghiên cứu của Nguyễn Đoan Trang & Lê Thị Minh (2022). Tổng quan cho thấy đa số nghiên cứu trước dùng hồi quy OLS truyền thống hoặc phân tích định tính qua khảo sát, ít mô hình hóa động thái phụ thuộc chuỗi thời gian nhiều chiều; từ đó khẳng định tính cần thiết của việc áp dụng mô hình VAR trên số liệu cấp tỉnh vùng ĐBSH.

Chương 2: Phương pháp và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu Logistics của các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2013-2021

Chương 2 trình bày cấu trúc toán học của hệ phương trình véc tơ tự hồi quy VAR bậc $p$, trong đó mỗi biến số phụ thuộc vào các giá trị trễ của chính nó và giá trị trễ của tất cả các biến số khác trong hệ thống. Tác giả nêu rõ 5 điều kiện tiên quyết khi vận hành mô hình VAR: chuỗi dừng, tính tuyến tính, không tồn tại đồng liên kết dài hạn (nếu có phải chuyển sang VECM), lựa chọn độ trễ $p$ phù hợp và không có đa cộng tuyến hoàn hảo.

Chương này xây dựng 7 giả thuyết nghiên cứu ($H_1$ đến $H_7$), dự kiến cả 7 nhân tố (GRDP, XK, NK, FDI, TMBL, DS, DTC) đều có mối quan hệ đồng biến (+) với khối lượng hàng hóa vận chuyển (KLHH). Các công thức kiểm định nghiệm đơn vị Fisher-ADF, kiểm định Granger, kiểm định AR Roots, LM Test, kiểm định White và phương pháp phân tách Cholesky được thiết lập chi tiết phục vụ chạy phần mềm EViews.

Chương 3: Thực trạng và kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu Logistics của các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2013-2021

Chương 3 trình bày bức tranh tổng thể ngành logistics Việt Nam: 9 tháng đầu năm 2022, khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 1.492,7 triệu tấn (tăng 24,4%), luân chuyển đạt 318,12 tỷ tấn.km (tăng 31%). Thị trường có hơn 5.000 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 3PL, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 89% số lượng nhưng chỉ nắm giữ khoảng 30% thị phần, 70% còn lại thuộc về doanh nghiệp liên doanh (10%) và FDI 100% (1%).

Tại khu vực ĐBSH, khối lượng vận chuyển phân bố không đều. Năm 2021, Hải Phòng dẫn đầu với 136.666 nghìn tấn (chiếm 22,9% toàn vùng), Hà Nội đạt 129.989 nghìn tấn (chiếm 21,8%), Hải Dương đạt 65.900 nghìn tấn (chiếm 10,x%). Các tỉnh Nam Định, Ninh Bình dù GRDP không thuộc nhóm cao nhất nhưng vẫn duy trì sản lượng vận tải đáng kể do nằm trong tứ giác tăng trưởng Hải Phòng - Quảng Ninh - Ninh Bình - Thanh Hóa.

Kết quả xử lý thống kê mô tả 99 quan sát cho thấy:

  • KLHH bình quân đạt 37.989 nghìn tấn (dao động từ 1.644 nghìn tấn đến 128.989 nghìn tấn).
  • GRDP trung bình đạt 113.342 nghìn tỷ đồng (dao động từ 17.225 đến 689.050 nghìn tỷ đồng).
  • Vốn FDI đăng ký trung bình đạt 7.686 nghìn tỷ đồng/năm.
  • Tổng mức bán lẻ TMBL trung bình đạt 69.533 nghìn tỷ đồng/năm.
  • Dân số trung bình đạt 1.951 nghìn người/tỉnh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả ước lượng mô hình VAR

  1. Kiểm định tiền lượng lượng:

    • Biến phụ thuộc KLHH không dừng ở chuỗi gốc nhưng đạt tính dừng ở sai phân bậc 1 sau khi lấy logarit, ký hiệu là DKLHH ($p$-value = 0.000 theo Fisher-ADF). Các biến giải thích khác dừng ở chuỗi dữ liệu gốc.
    • Độ trễ tối ưu được xác định là bậc 3 ($p=3$) theo tiêu chí AIC, SC và HQ.
    • Kiểm định nghiệm đơn vị AR: tất cả các nghiệm đều nằm trong vòng tròn đơn vị, chứng minh mô hình VAR có tính ổn định cao.
    • Kiểm định LM: $p$-value ở các độ trễ đều $> 0.05$ (độ trễ 1 có $p=0.1540$), khẳng định không có tự tương quan phần dư.
    • Kiểm định White: $p$-value $= 0.100$, không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
  2. Kiểm định nhân quả Granger:

    • Tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ GRDP, DS, DTC đến biến nhu cầu logistics DKLHH ($p$-value lần lượt là 0.005; 0.004; 0.0007).
    • Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều tương hỗ giữa FDI và DKLHH ($p$-value lần lượt là 0.016 và 0.009).
  3. Hệ số hồi quy phương trình DKLHH:

    • Hệ số xác định $R^2 = 0.8930$, kiểm định $F$ có mức ý nghĩa $Sig = 0.000$.
    • GRDP: Tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% ($\beta = +0.199$). Khi GRDP tăng 1%, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng tương ứng.
    • NK (Nhập khẩu): Tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, phản ánh nhu cầu vận chuyển linh kiện, máy móc phục vụ chuỗi sản xuất nội địa.
    • FDI: Tác động cùng chiều ở mức ý nghĩa 5%, cho thấy luồng vốn ngoại thúc đẩy mở rộng hạ tầng và dịch vụ vận tải hàng hóa.
    • TMBL: Tác động cùng chiều ở mức ý nghĩa 5%, phản ánh sức mua tiêu dùng xã hội trực tiếp kéo theo nhu cầu lưu kho và giao hàng.
    • DTC (Vốn đầu tư công ngân sách): Tác động cùng chiều ở mức ý nghĩa 5%, khẳng định việc đầu tư công vào đường sá, cầu cảng làm tăng năng lực lưu thông hàng hóa.
    • XK (Xuất khẩu): Mang hệ số âm ở mức ý nghĩa 5% trong phương trình trễ.
    • DS (Dân số): Giá trị $p$-value $> 0.05$, biến này không có ý nghĩa thống kê tác động trực tiếp đến DKLHH ở mức 5%.
  4. Hàm phản ứng (IRF) và Phân rã phương sai:

    • Các cú sốc từ biến FDI, NK, DTC tác động kéo dài từ 8 đến 12 năm mới triệt tiêu hoàn toàn, cho thấy nhu cầu logistics phản ứng có độ trễ lớn và quán tính dài hạn.
    • Phân rã phương sai Cholesky cho thấy biến DKLHH tự giải thích từ 47% đến 74% biến thiên của chính nó; FDI giải thích từ 12% đến 15,6%; NK giải thích từ 3% đến 22%; các biến còn lại (GRDP, XK, TMBL, DS, DTC) chiếm tỷ trọng nhỏ hơn.

Giải pháp và khuyến nghị chính sách

Trên cơ sở kết quả hồi quy và phân rã phương sai, tác giả đưa ra 4 nhóm kiến nghị cho các doanh nghiệp và địa phương ĐBSH:

  1. Tăng cường năng lực cung ứng hạ tầng logistics: Tập trung vốn đầu tư phát triển hệ thống trung tâm logistics thế hệ mới, kho bãi hiện đại, cảng cạn (ICD) tại các đầu mối giao thông trọng điểm để tận dụng tác động lan tỏa từ nguồn vốn FDI và nhập khẩu.
  2. Cải cách thủ tục hành chính và thông quan hải quan: Thúc đẩy liên kết logistics liên tỉnh, chuẩn hóa và đơn giản hóa thủ tục thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với đại lý hải quan chuyên nghiệp để cắt giảm thời gian chờ đợi.
  3. Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số: Đầu tư hệ thống định vị GPS, phần mềm quản lý kho (WMS), phần mềm quản lý vận tải (TMS) và kết nối nền tảng thương mại điện tử nhằm tối ưu lộ trình và quản trị tồn kho.
  4. Đào tạo và phát triển nhân lực logistics chất lượng cao: Liên kết giữa doanh nghiệp và các trường đại học chuyên ngành để đào tạo kỹ năng quản trị chuỗi cung ứng, ngoại ngữ và chứng chỉ nghề logistics quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra các hạn chế trong quá trình thực hiện:

  • Hạn chế về hệ thống biến số: Mô hình mới chỉ lượng hóa các nhân tố kinh tế vĩ mô định lượng (GRDP, XK, NK, FDI, TMBL, DS, DTC) từ số liệu thứ cấp; chưa tích hợp các biến định tính quan trọng như chất lượng dịch vụ logistics, năng lực thể chế địa phương, mức độ số hóa và các rào cản chính sách.
  • Hạn chế về thước đo nhu cầu: Nhu cầu logistics được đại diện đơn lẻ qua khối lượng hàng hóa vận chuyển đường bộ/địa phương, chưa tách bạch chi tiết theo từng phương thức vận tải (đường thủy nội địa, đường sắt, hàng không, hàng hải) và khối lượng luân chuyển (tấn.km).

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khung phân tích bằng cách xây dựng hệ thống chỉ tiêu tích hợp cả định tính và định lượng, thu thập dữ liệu sơ cấp qua khảo sát doanh nghiệp 3PL và phân tích cấu trúc nhu cầu chi tiết theo từng tiểu ngành vận tải.


Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Thống kê kinh tế, Kinh tế học, Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng: Tham khảo cấu trúc hoàn chỉnh của một nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng mô hình VAR trên dữ liệu bảng cấp tỉnh, từ kiểm định chuỗi dừng Fisher-ADF, kiểm định Granger, kiểm định nghiệm AR đến hàm phản ứng IRF và phân rã Cholesky.
  • Các nhà nghiên cứu kinh tế vùng: Cung cấp nguồn số liệu thứ cấp được chuẩn hóa giai đoạn 2013–2021 về 11 tỉnh thành ĐBSH đối với các chỉ tiêu vận tải, ngân sách, FDI và thương mại.
  • Các nhà hoạch định chính sách địa phương và hiệp hội doanh nghiệp logistics (VLA): Sử dụng các phát hiện về mức độ đóng góp của FDI, đầu tư công và nhập khẩu để xây dựng quy hoạch trung tâm logistics và bố trí quỹ đất giao thông đồng bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhu cầu logistics trong nghiên cứu này được đo lường bằng chỉ tiêu nào?
Nhu cầu logistics được đo lường định lượng bằng chỉ tiêu Khối lượng hàng hóa vận chuyển phân theo địa phương (KLHH), đơn vị tính là nghìn tấn, được thu thập từ Niên giám Thống kê của 11 tỉnh/thành phố ĐBSH. Trong mô hình VAR, biến này được đưa vào dưới dạng sai phân bậc 1 logarit (DKLHH) để đảm bảo tính dừng.

2. Độ trễ tối ưu được lựa chọn cho mô hình VAR trong khóa luận là bao nhiêu?
Mô hình VAR được xác định độ trễ tối ưu là bậc 3 ($p=3$), dựa trên kết quả đồng thuận của các tiêu chuẩn kiểm định thông tin gồm AIC, SC, HQ, FPE và LR tại Bảng 3.3 của khóa luận.

3. Biến nào có mối quan hệ nhân quả hai chiều với nhu cầu logistics?
Theo kết quả kiểm định nhân quả Granger (Bảng 3.4), chỉ có biến Tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có mối quan hệ nhân quả hai chiều với sai phân khối lượng vận chuyển hàng hóa (DKLHH) ở mức ý nghĩa thống kê 5% ($p$-value lần lượt là 0.016 và 0.009).

4. Yếu tố nào giải thích tỷ lệ biến thiên lớn nhất cho nhu cầu logistics theo phân rã phương sai?
Kết quả phân rã phương sai Cholesky cho thấy biến DKLHH được giải thích chủ yếu bởi chính nó trong quá khứ (chiếm từ 47% đến 74%). Trong các biến giải thích còn lại, biến Vốn FDI giải thích từ 12% đến 15,6% và Trị giá nhập khẩu (NK) giải thích từ 3% đến 22% sự biến thiên của nhu cầu logistics.

5. Biến dân số trung bình (DS) có tác động như thế nào đến khối lượng vận chuyển hàng hóa trong mô hình hồi quy VAR?
Trong mô hình hồi quy VAR ước lượng cho phương trình DKLHH, biến Dân số trung bình (DS) có mức ý nghĩa kiểm định $p$-value $> 0.05$, do đó không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Giả thuyết $H_6$ (dân số tác động cùng chiều trực tiếp đến KLHH trong ngắn hạn) bị bác bỏ trong mô hình này.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Lưu Thị Ngọc Trâm đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu logistics của 11 tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2013–2021 thông qua mô hình véc tơ tự hồi quy VAR. Kết quả nghiên cứu khẳng định nhu cầu logistics chịu sự thúc đẩy mạnh mẽ từ tăng trưởng GRDP, nhập khẩu, luồng vốn FDI, tiêu dùng nội địa và vốn đầu tư công vào hạ tầng. Công trình cung cấp luận cứ định lượng tin cậy, làm cơ sở để các địa phương và doanh nghiệp xây dựng quy hoạch hạ tầng kho bãi, cải cách thủ tục hải quan và đẩy mạnh số hóa chuỗi cung ứng trong thời gian tới.