CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN NHU CAU LOGISTICS CUA CAC TINH, THÀNH PHO KHU VUC DONG BANG SONG HONG 1. Cơ sở lý luận về nhu cầu của ngành logistics 1. Khái niệm về Logistics Theo Hội đồng quản trị logistics 2002, Logistics là một phần của chuỗi cung ứng quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng chảy và lưu trữ hiệu quả, hiệu quả của hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Theo quan điểm của WTO, logistics được định nghĩa là chuỗi cung ứng dịch vụ, bao gồm lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự dịch chuyền và lưu kho hàng hoá, dich vụ và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nham đáp ứng yêu câu của khách hàng.
Theo Điều 233 Luật Thuong mại 2005, Dich vụ logistics được định nghĩa là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyên, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hang dé hưởng thù lao. Như vậy chúng ta có thé hiểu Logistics như sau: Theo nghĩa rộng, logistics là một quá trình tổ chức và quản lý khoa học từ giai đoạn sản xuất cho tới khi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo nghĩa hẹp, logistics là quá trình quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát việc di chuyển và lưu trữ hàng hóa và nguyên vật liệu, là hoạt động thương mại gan với các dịch vu cụ thé. Vai trò của Logistics Logistics đang dần khăng định được vị thế quan trọng của mình trong việc phát triển kinh tế của các quốc gia.
Giá trị gia tăng do ngành tạo ra ngày càng lớn và thê hiện qua các khía cạnh: Đôi với nên kinh tê quôc dân Thứ nhất, Logistics góp phan thúc day thương mại phát triển Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ câu nên kinh tê quôc dân, là điểm sáng của nên kinh tế và chuỗi cung ứng toàn cau. Gan dịch vu logistics với phát triên sản xuât hàng hóa, xuât nhập khâu và thương mại trong nước giúp nâng cao giá tri cạnh tranh trong khu vực. Thứ hai, Logistics giúp kết nối các nên kinh tế Logistics đóng một vai trò quan trọng trong việc kết nối các nền kinh tế băng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyên hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận thị trường và khách hàng mới. Logistics giúp kết nối các hoạt động giao dịch giữa doanh nghiệp và thị trường mới trên thế giới, cụ thé các hoạt động như thủ tục hải quan, chứng từ, vận chuyên và kho bãi.
Thứ ba, Logistics có vai tro nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nên kinh tê Hệ thống logistics hiệu quả có thé giúp doanh nghiệp giảm chi phi, tăng năng suất và cải thiện dịch vụ khách hàng, từ đó có thể nâng cao mức lợi nhuận cao hơn và tăng trưởng kinh tế. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, Logistics góp phan duy trì hiệu quả cả dau vào và dau ra Trong chuỗi cung ứng, đầu vào đề cập đến nguyên liệu thô, linh kiện và các nguồn lực khác được yêu cầu dé sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Mặt khác, đầu ra đề cập đến các sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoan thành được giao cho khách hàng. Logistics giúp đảm bảo răng các yếu tố đầu vào được giao đến các cơ sở sản xuất đúng thời gian, đúng số lượng và chất lượng, giảm thiểu sự chậm trễ trong sản xuất và giảm chi phí vận chuyền hàng tồn kho.
Tương tự, logistics cũng giúp đảm bảo rằng thành phâm được giao cho khách hàng đúng thời gian và đảm bảo sự hài lòng của khách hàng. Thứ hai, Logistics góp phan trong việc giảm chỉ phí, tang khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Logistics đóng một vai trò quan trong trong việc giảm thiểu và tăng cường cạnh tranh cho các doanh nghiệp bằng cách tối ưu hóa luồng hàng hóa và thông tin giữa các điểm khác nhau trong chuỗi cung ứng như cải thiện quản lý hàng tồn kho, tinh giản hóa quá trình thực hiện đơn hàng. Thứ ba, Logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi can đến, đúng thời điểm thích hợp Nhu cầu của khách hàng thì luôn luôn biến đổi, vì vậy việc tạo uy tín và nhận được sự hài lòng của khách hàng là vô cùng quan trọng. Vì vậy, vai trò của Logistics vô cùng quan trọng, nó giúp tối ưu hóa việc vận chuyền, quản lý mức tồn kho, thực hiện đơn hàng và quản lý kho dé đảm bảo sản phẩm được giao đúng hạn cho khách hàng.
Tống quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu Logistics 1. Các nghiên cứu nước ngoài Một sô nghiên cứu trên thê giới đã chỉ ra các yêu tô chính ảnh hưởng tới nhu cau logistics của một quôc gia hoặc khu vực, gôm các yêu tô vê tăng trưởng và mức độ phát triên kinh tê, cơ câu kinh tê, dân sô, ngoại thương. Guo-en XIA, Lu MA, Dongjiao WANG , Zerui SUN (2016) bài nghiên cứu nhu cau logistics tại tinh Quảng Châu, Trung Quốc. Nghiên cứu đã xác định ra các yêu tố ảnh hưởng tới nhu cầu logistics của khu vực bao gồm: nhân tổ về kinh tế như mức độ phát triển kinh tế chung của vùng; cơ cau ngành công nghiệp; hoạt động xuất nhập khẩu; ngoài ra tong mức tiêu dùng của cư dan; tổng mức bán lẻ toàn xã hội, đầu tư TSCĐ toàn xã hội, thu nhập bình quân đầu người và các nhân to phi kinh tế như vị trí địa lý vùng, chính sách kinh tế, tiến bộ công nghệ, yếu tố thuộc về tự nhiên ( thiên tai, dịch bénh,.) cũng ảnh hưởng đến nhu cầu logistics.
Nghiên cứu nhu cau logistics ở Đông Bac, Trung Quốc của Ying Sun, Xinzhong Bao and Meizi Cui(2011), bai báo này chọn vòng quay hang hóa làm chỉ báo cho nhu cầu logistics ở Đông Bắc Trung Quốc, các chỉ tiêu kinh tế có tác động đáng ké đến dự báo nhu cau Logistics của khu vực từ 4 khía cạnh: Chỉ số tổng sản lượng kinh tế khu vực: tông sản phẩm quốc nội (GDP); Các chỉ tiêu co cau công nghiệp vùng: sản lượng công nghiệp, sản lượng nông nghiệp, sản lượng xây dựng; Các chỉ tiêu nội, ngoại thương; tổng mức bán lẻ trong nước, tổng mức ngoại thương; Các chỉ số về mức tiêu dùng theo vùng: thu nhập bình quân đầu người. Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu logistics thành phố Trùng Khánh, Trung Quốc của Hongjiang Maa, and Xu Luob(2021). Bài viết này chủ yêu phân tích các yếu tố có thé đo lường định lượng ảnh hưởng của nhu cầu logistics từ 5 khía cạnh: GDP khu vực, cơ cấu công nghiệp, mức tiêu dùng của người dân, tình hình xuất nhập khẩu và cơ sở hạ tầng logistics. Về biến phụ thuộc, lựa chọn khối lượng vận chuyên hàng hóa vi chỉ tiêu này chiếm ty trọng lớn trong khối lượng logistics, điều này có thể phản ánh quy luật thay đổi của nhu cầu logistics va tong nhu cau logistics trong một khu vực cụ thé ở một mức độ nhất định.
XiaoYe Zhou, Nan Liu & Geng Wang (2011) đã nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo nhu cầu logistics của Khu kinh tế Thâm Dương. Nghiên cứu đã xác định ra các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu logistics của khu vực bao gồm: tốc độ phát triển kinh tế chung của vùng; cơ cau ngành; hoạt động kinh doanh trong khu vực; hoạt động xuất nhập khẩu; ngoài ra đầu tư có định và tăng trưởng tổng sản lượng cũng là những yếu tố tác động. Nhìn chung, nhu cau logistics thay đổi bởi nhiều yếu tố phân theo đặc điểm của từng khu vực. Bên cạnh đó, các nhân tố tác động nhu cau logistics để thống kê định lượng tương đối khan hiếm, thiếu số liệu thống kê thực tế.
Vì vậy, các nghiên cứu về nhu cau logistics nước ngoài tập trung xây dựng hệ thống chỉ số bao gồm các yếu tô có ảnh hưởng đến nhu cầu logistics, từ đó xét mức độ tác động của từng yếu tố đến nhu cầu logistics, đưa ra các dự báo dựa trên các kịch bản giả định nhằm đánh giá thực trạng nhu cầu logistics khu vực cũng như gợi ý các giải pháp, phương hướng có thé cân bằng cung và cầu về logistics, tránh lãng phí tài nguyên, thúc đây hiệu quả toàn bộ ngành, đồng thời cung cấp cơ sở lý luận về mục tiêu chiến lược cua logistics. Cac nghiên cứu trong nước Hiện tại, có rât ít bài nghiên cứu cụ thê nào nghiên cứu riêng vê nhu câu logistics các khu vực ở Việt Nam, tuy nhiên đã có các nghiên cứu liên quan đên lĩnh vực của ngành như: Nghiên cứu phát triển các dich vụ logistics ở nước ta trong diéu kiện hội nhập quốc tế (2011) của Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Đình Đào khái quát tông quan về sự phát triển của ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, đồng thời nêu bật thách thức mà ngành logistics đang phải đối mặt. Những thách thức này bao gồm hạn chế về hạ tầng, các thủ tục không hiệu quả và hạn chế áp dụng công nghệ. Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp logistics khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (2019) của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga: xác định các yêu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp logistics tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bằng cách phỏng van và khảo sát qua bang hỏi.
Các nhân tố bao gồm yếu tô về môi trường, yếu tố về chính sách, yêu tố về vốn, yếu tố về năng lực của doanh nghiệp. Nghiên cứu cung cấp những hiểu biết hữu ich cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp logistics trong khu vực về cách giải quyết, nâng cao sự phát triển của ngành logistics. Dự báo nhu cầu và triển vọng tăng trưởng của ngành Logistics phục vụ chiến lược phát triển ngành giai đoạn 2021-2030, Nguyễn Đoan Trang, Lê Thị Minh, dé tài khoa học cấp bộ, trung tâm thông tin và dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tv. Bài luận tập trung nghiên cứu và xây dựng mô hình dự báo nhu cầu logistics cua nén kinh té, giai doan đến năm 2030 và triển vọng tăng trưởng của ngành.
Kết quả nghiên cứu hỗ trợ việc xây dựng chiến lược phát triển ngành, cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc phát triển và ứng dụng các công cụ dự báo ngành kinh tế.