Chương 1: Giới thiệu – Trình bày vấn đề nghiên cứu, những mục tiêu nghiên cứu cụ thể và giới thiệu tóm lƣợc phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài. 123doc Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý luận – Chƣơng này trình bày những khái niệm và các lý thuyết, mô hình phân tích liên quan. Chƣơng này cũng bao gồm cả phần tóm tắt một số kết quả thực nghiệm từ những nghiên cứu trƣớc ở Việt nam và trên thế giới để nhận diện một số các nhân tố có khả năng tác động đến quyết định thành lập loại hình doanh nghiệp này. Tất cả những nội dung này sẽ dùng làm cơ sở để chƣơng 3 xây dựng khung phân tích giải thích việc lựa chọn thành lập một DN KH&CN cho đề tài.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu – Mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu bao gồm mô hình và phƣơng pháp phân tích; tập dữ liệu và phƣơng pháp thu thập, khảo sát, ghi nhận kết quả. Chương 4: Kết quả - Chƣơng này sẽ mô tả các kết quả khảo sát và thực hiện phân tích, bàn luận về sự tác động của các nhân tố thuộc khung phân tích đến sự lựa chọn thành lập DN KH&CN của các nhà khoa học. Chương 5: Kết luận, Đề xuất & Kiến nghị - Dựa trên những kết quả phân tích ở chƣơng 4, chƣơng 5 sẽ tổng hợp, đƣa ra kết luận về những kết quả chính, những hạn chế và hƣớng phát triển của đề tài. Và cuối cùng đƣa ra những đề xuất & kiến nghị về mặt chính sách, quản lý để cải thiện khả năng lựa chọn thành lập DN KH&CN của các nhà khoa học trong thời gian tới.
123doc Trang 6 Chương 2. Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ (DN KH&CN) 2.1 Định nghĩa DN KH&CN Trên thế giới, loại hình DN KH&CN đƣợc gọi với rất nhiều tên khác nhau nhƣ: Doanh nghiệp khoa học spin-off (Academic spin-off); Doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/công nghệ cao – NTBF (New/Hight Technology Based Firm); Doanh nghiệp dựa trên tri thức - Knowledge Based Company; technology-insentive company; enterprise science & technology; … Rất khó có định nghĩa chung và rõ ràng cho loại hình DN KH&CN (Chamanski và Waago, ???), việc nhận diện các DN KH&CN thƣờng dựa trên những tiêu chuẩn, điều kiện tùy thuộc vào đặc điểm của từng nơi và mục tiêu của các chính sách khuyến khích khác nhau. Tuy nhiên nhìn chung các doanh nghiệp đƣợc xếp vào loại hình DN KH&CN đều có cùng một đặc điểm là: Kinh doanh các sản phẩm/dịch vụ được sản xuất dựa trên những kết quả nghiên cứu khoa học, những giải pháp, quy trình công nghệ mới - và có thể chia thành 2 nhóm với sự khác nhau về nguồn gốc xuất phát nhƣ sau: (1) - Nhóm các DN KH&CN có nguồn gốc từ các trƣờng đại học, trung tâm nghiên cứu hoặc viện nghiên cứu, đƣợc gọi là Academic spin-off. Một định nghĩa điển hình về Academic Spin-off có thể là định nghĩa của Ủy ban Châu Âu về phát triển Doanh nghiệp Vừa và nhỏ4 (ECSB, 2009): Spin-off là một doanh nghiệp được khởi tạo từ một công ty hoặc một tổ chức có sẵn bởi một nhân viên hoặc một nhóm nhân viên của doanh nghiệp/tổ chức đó.
Spin-off, sau khi ra đời sẽ hoàn toàn độc lập với tổ chức mẹ về pháp lý, công nghệ, cấu trúc kinh doanh như một doanh nghiệp hoàn toàn mới. Khi một spin-off xuất phát từ một trường đại học thì spin-off đó được gọi tên là Doanh nghiệp khoa học (Academic spin-off) và các doanh nghiệp này có nhiệm vụ giúp gia tăng, phát triển mối tương tác giữa các kết quả nghiên cứu trong trường đại học với thị trường, giúp đưa văn hóa khoa học vào môi trường thị trường tập trung và xã hội. 4 Tổ chức ECSB (European Council for Small Business and Entrepreneurship) 123doc Trang 7 (2) - Nhóm các DN KH&CN độc lập do một hoặc một nhóm các nhà khoa học tự đứng ra thành lập mới hoàn toàn hoặc do các nhà đầu tƣ mua kết quả KH&CN (hoặc liên kết với nhà khoa học để sở hữu kết quả KH&CN) và thành lập DN KH&CN để khai thác kinh Doanh. Nhóm các doanh nghiệp này thƣờng đƣợc gọi là các NTBF.
Daramola (2012) đã giới thiệu rằng thuật ngữ NTBF khởi phát từ Arthur D. Họ định nghĩa NTBF là một doanh nghiệp độc lập đƣợc thành lập chƣa quá 25 năm và dựa trên việc khai thác các sáng chế, đổi mới trong khoa học hoặc công nghệ có rủi ro khá cao (về mặt công nghệ). Về sau khái niệm NTBF đƣợc diễn đạt và định nghĩa dƣới nhiều cách khác nhau. Điển hình nhƣ: theo Luggen (2004), khái niệm NTBF dùng để chỉ những tổ chức doanh nghiệp đang ở giai đoạn tồn tại hoặc phát triển, tập trung mạnh vào sự sáng tạo, phát triển và khám phá những đổi mới công nghệ thông qua hoạt động nghiên cứu và phát triển trong ngành công nghiệp công nghệ cao.
Ở Việt Nam, theo Bạch Tân Sinh (2005), khái niệm DN KH&CN đã bắt đầu xuất hiện từ khá sớm (2001) thông qua một vài bài báo giới thiệu về mô hình hoạt động của công ty Phụ gia và dầu nhờn APP. Đến năm 2007 khái niệm này đã chính thức đƣợc đƣa vào nghị định 80/2007/NĐ-CP và có những hƣớng dẫn thi hành chi tiết về việc chứng nhận loại hình DN này qua thông tƣ 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV. Theo đó5, DN KH&CN là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Khoa học và Công nghệ. Hoạt động chính của DN KH&CN là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp khoa học và công nghệ có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy khác với các doanh nghiệp thông thƣờng, các doanh nghiệp đƣợc chứng nhận là DN KH&CN cần phải đáp ứng đƣợc 2 tiêu chí sau: 5 Căn cứ điều 2 và khoản 2 điều 1 nghị định 80/2007/NĐ-CP 123doc Trang 8 (1) - Có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp các kết quả khoa học & công nghệ (KQ KH&CN) 6 thuộc một trong 7 lĩnh vực: (1) Công nghệ thông tin - truyền thông, đặc biệt công nghệ phần mềm tin học; (2) Công nghệ sinh học, đặc biệt công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản và y tế; (3) Công nghệ tự động hoá; (4) Công nghệ vật liệu mới, đặc biệt công nghệ nano; (5) Công nghệ bảo vệ môi trƣờng; (6) Công nghệ năng lƣợng mới; và (7) Công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định. (2) - Có kế hoạch và năng lực triển khai sử dụng, khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học đó. Cũng theo NĐ80, DN KH&CN đƣợc chia thành 2 loại hình, khá tƣơng xứng với 2 hình thức DN KH&CN trên thế giới là: Loại hình DN KH&CN đƣợc hình thành do Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ công lập thực hiện việc chuyển đổi tổ chức, hoạt động để thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ đƣợc gọi chung là tổ chức khoa học và công nghệ công lập.
(tƣơng tự nhƣ hình thức Academic Spin-off) Loại hình DN KH&CN do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và có nhu cầu thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ thành lập đƣợc gọi chung là DN KH&CN. (tƣơng tự nhƣ hình thức NTBF) Nhƣ vậy có thể thấy, việc phân loại và xác định DN KH&CN ở Việt Nam khá tƣơng đồng với thế giới. Và trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ xét tới loại hình DN KH&CN tƣ nhân, tƣơng ứng với hình thức NTBF trên thế giới. 6 Theo Điều 4, thông tƣ 06 123doc Trang 9 2.2 Vai trò và sự phát triển của loại hình DN KH&CN 2.1 Tình hình phát triển DN KH&CN xuất hiện đầu tiên từ trƣờng Đại học MIT tại Mỹ vào đầu những năm 1980s.
Đến năm 1997 MIT đã phát triển số lƣợng DN này lên tới con số 4000, tạo ra khoảng 1,1 triệu việc làm và đem về doanh thu hàng năm vào khoảng 232 tỷ USD (tƣơng đƣơng với tổng thu nhập quốc dân của một nền kinh tế thứ 24 trên thế giới vào lúc bấy giờ) (Steffensen và ctv, 2000). Làn sóng phát triển loại hình doanh nghiệp này nhanh chóng lan rộng và hình thành nên nhiều khu công nghiệp công nghệ cao mà chủ yếu xoay quanh các trƣờng đại học lớn nhƣ: Thung lũng Silicon gần trƣờng đại học Stanford và California Berkeley; Khu công viên Khoa học gần Trƣờng Đại học Cambridge tại Anh; … Tại Trung Quốc, DN KHCN đầu tiên hình thành từ Khu phố điện tử Trung Quang Thôn gần Viện Khoa học Trung Quốc và Đại học Thanh Hoa vào đầu 1980s. Đến năm 1985 đã có hơn 100 doanh nghiệp KHCN tập trung trên con phố này. Tháng 7/1985 Chính phủ Trung quốc công nhận các doanh nghiệp này một cách chính thức, cùng với chƣơng trình Bó đuốc năm 1988 đã giúp thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này một cách mạnh mẽ.
Tính đến năm 2000 Trung Quốc đã có 20.796 doanh nghiệp KHCN đƣợc hình thành tạo ra lƣợng doanh thu lên đến 920,9 tỷ NDT (tƣơng đƣơng 115 USD) so với con số 12.937 DN với doanh thu 152,1 tỷ NDT (18. Tại Việt Nam, tác giả chƣa có đƣợc thống kê đầy đủ về số lƣợng DN KH&CN hiện nay trên cả nƣớc, chỉ có một vài số liệu rời rạc nhƣ: Theo một báo cáo của Vụ tổ chức cán bộ - Bộ khoa học công nghệ, tính đến năm 2010 cả nước có 9 DN KH&CN thành lập mới và 4 DN được chuyển đổi từ mô hình tổ chức KH&CN; Theo thông tin từ Sở khoa học & Công nghệ Tp.HCM, tính đến thời điểm hiện nay (9/2012) có 8 DN đã được chứng nhận và đang có 2-3 DN đang trong quá trình hoàn tất thủ tục chứng nhận DN KH&CN trên địa bàn thành phố. Tác giả cũng chƣa có đƣợc báo cáo tổng kết hiệu quả hoạt động của các DN KH&CN này, nhƣng qua một số bài báo và qua thực tế tiếp cận với các DN KH&CN tại tp.HCM thì tình hình các DN KH&CN tại Việt Nam còn rất nhiều khó khăn.