lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 phần nhƣ sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ phát triển DNNVV - Chƣơng 2: Thực trạng hỗ trợ phát triển DNNVV trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005-2013 - Chƣơng 3: Một số giải pháp tăng cƣờng hỗ trợ phát triển cho DNNVV trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 6 z CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát chung về Doanh nghiệp nhỏ và vừa: 1. Khái niệm, tiêu chí phân loại và đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm, tiêu chí phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm: Ngày 23 tháng 11 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa(DNNVV) đã quy định cụ thể về DNNVV nhƣ sau: DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh lao động theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 ngƣời. Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội cụ thể của ngành, địa phƣơng, trong quá trình thực hiện các biện pháp, Chƣơng trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên. Theo định nghĩa này tất cả các doanh nghiệp (DN) thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thoả mãn hai tiêu thức lao động và vốn đƣa ra trong nghị định này đều đƣợc coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt nam Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, DNNVV có vị trí quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, nhƣng còn có nhiều hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV nêu cụ thể DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên).
7 z Tiêu chí phân loại DNNVV: Nghị định 56/2009/NĐ-CP đã đƣa ra các tiêu chí phân loại rõ ràng theo quy mô về vốn, số lao động trong từng khu vực cụ thể. Chi tiết theo bảng phân loại dƣới đây: Doanh Quy nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa mô siêu nhỏ Khu Tổng Số lao Số lao Tổng nguồn Số lao vực nguồn động động vốn động vốn I. Nông, 10 ngƣời 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên lâm nghiệp trở xuống đồng trở ngƣời đến đồng đến 200 ngƣời và thủy sản xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 ngƣời II. Công 10 ngƣời 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên nghiệp và trở xuống đồng trở ngƣời đến đồng đến 200 ngƣời xây dựng xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 ngƣời III.
Thƣơng 10 ngƣời 10 tỷ từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch trở xuống đồng trở ngƣời đến đồng đến 50 ngƣời đến vụ xuống 50 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời 1. Đặc điểm, ưu thế và một số hạn chế của DNNVV * Đặc điểm của DNNVV Quy mô DN nhỏ: Quy mô doanh nghiệp nhỏ nên năng lực sản xuất - kinh doanh bị hạn chế, bao gồm cả năng lực về thiết bị - công nghệ, năng lực về vốn, năng lực về quản lý. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm đại đa số trong DNNVV. Do đó, nhìn chung vốn kinh doanh của các DNNVV là ít và 8 z khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp này cũng có những hạn chế nhất định, đặc biệt là việc tiếp cận với các nguồn tín dụng thƣơng mại của Nhà Nƣớc còn gặp nhiều khó khăn.
Số lượng DNNVV lớn: Trong cả nƣớc, số DNNVV chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp. Với một số lƣợng lớn nhƣ vậy, việc hỗ trợ các doanh nghiệp này đòi hỏi một nguồn lực lớn. Hình thức tổ chức và ngành nghề kinh doanh đa dạng: Các DNNVV ở Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp khác nhau, bao gồm từ DNNN, DNTN đến các HTX. DNNVV thuộc các thành phần kinh tế khác nhau chƣa đƣợc đối xử bình đẳng, bị phân biệt đối xử.
Thể hiện tập trung nhất trong việc tiếp cận các nguồn lực nhƣ mặt bằng sản xuất, vay vốn ngân hàng. DNNVV có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, có mặt ở tất cả các vùng, miền, địa phƣơng. Ngoài sản xuất cung ứng các sản phẩm mang tính độc lập, DNNVV còn có quan hệ liên kết với các doanh nghiệp lớn trong việc cung ứng nguyên vật liệu, thực hiện thầu phụ… Trình độ công nghệ: So với mức trung bình của thế giới, trình độ công nghệ của các DNNVV ở Việt Nam lạc hậu và tốc độ đổi mới quá chậm. Hạn chế về năng lực cán bộ, công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất kinh doanh.
Trình độ quản lý: Việt Nam có lực lƣợng lao động dồi dào, trình độ học vấn tƣơng đối cao so với các nƣớc có cùng trình độ phát triển nhƣng chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp, năng suất lao động không cao. Quản trị nội bộ doanh nghiệp còn yếu, nhất là quản trị tài chính; ý thức chấp hành các chế độ chính sách chƣa cao; còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một ngành nghề. * Ƣu thế của DNNVV 9 z DNNVV nhạy cảm, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trƣờng. Thông thƣờng, các DNNVV năng động và linh hoạt hơn so với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất kinh doanh, khi thị trƣờng biến động thì các DNNVV cũng dễ dàng thay đổi mặt hàng hoặc chuyển hƣớng kinh doanh.
DNNVV đƣợc thành lập dễ dàng vì vốn đầu tƣ ít, do đó, chúng tạo ra cơ hội đầu tƣ đối với nhiều ngƣời, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân trong nƣớc dù ở điều kiện văn hóa, giáo dục khác nhau đều có thể tìm kiếm đƣợc cơ hội lập nghiệp. Sau khi thành lập, DNNVV sớm đi vào hoạt động và có khả năng thu hồi vốn nhanh. DNNVV có qui mô nhỏ, đòi hỏi về cơ sở hạ tầng không quá cao. Vì thế nó có thể đƣợc đặt ở nhiều nơi trong nƣớc, từ thành thị cho tới nông thôn, miền núi và hải đảo.
DNNVV dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp, do đó tăng hiệu suất sử dụng vốn. Đồng thời góp phần đáng kể tạo công ăn việc làm, giảm bớt thấp nghiệp cho xã hội. DNNVV có ƣu thế về quan hệ giữa ngƣời sử dụng và ngƣời lao động gần gũi, thân thiện hơn so với các doanh nghiệp lớn. Sự trì trệ, thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hƣởng ít hoặc không gây nên khủng hoảng kinh tế xã hội, đồng thời các DNNVV ít bị ảnh hƣởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế.
* Hạn chế của DNNVV Do qui mô không lớn, vốn thấp, năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp bị giới hạn, số lƣợng lao động trong DNNVV ít , hoạt động phân tán , thiếu các nguồn lực để tiến hành các công trình lớn hoặc các dự án đầu tƣ lớn; không đủ kỹ năng để tham gia cạnh tranh hiệu quả trong các thị trƣờng với mức tự do hoá ngày càng gia tăng. Chính vì sự yếu thế trên nên các DNNVV 10 z bị các DN lớn cạnh tranh quyết liệt. Chất lƣợng, mẫu mã sản phẩm của nhiều DNNVV còn hạn chế. Năng lực sản xuất thấp và thiếu ổn định, chi phí sản xuất cao nên nhìn chung, giá thành sản phẩm của DNNVV còn cao hơn so với sản phẩm tƣơng tự trong khu vực và thế giới.
Các DNNVV khó khăn trong việc tiếp cận nguồn lực về khoa học kỹ thuật, thiết bị máy móc, nguồn nguyên liệu, nguồn vốn sản xuất kinh doanh. Hầu hết các DNNVV đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn vay ngân hàng vì thiếu tài sản thế chấp. Ngoài ra, việc xác định giá trị tài sản thế chấp thƣờng đƣợc định giá thấp hơn so với giá thị trƣờng. Các tổ chức tín dụng còn coi DNNVV là có nhiều rủi ro.
Khả năng mở rộng thị trƣờng đầu ra, đặc biệt là thị trƣờng quốc tế có nhiều hạn chế. Hàng hoá của Việt Nam đã có mặt tại thị trƣờng trên 200 nƣớc và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng trong và ngoài nƣớc của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chƣa thực sự vững chắc. Sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV, sự liên kết, hợp tác theo hiệp hội ngành hàng, theo địa bàn còn lỏng lẻo đã hạn chế khả năng cạnh Trình độ quản lý của các doanh nghiệp còn yếu kém, nhiều doanh nghiệp thiếu tính chiến lƣợc và kế hoạch dài hạn, phần lớn đội ngũ cán bộ nghiệp vụ chƣa đƣợc qua đào tạo.
Quản lý tài chính trong doanh nghiệp thƣờng còn thiếu minh bạch và phần lớn các DNNVV có trình độ KH&CN, trang thiết bị kỹ thuật lạc hậu. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế 1. Đối với kinh tế DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các doanh nghiệp: Các DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các cơ sở SXKD và ngày càng tăng 11 z mạnh. Tốc độ gia tăng số lƣợng các DNNVV nhanh hơn số lƣợng doanh nghiệp lớn.
Các DNNVV hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ, từ công nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, tạo khả năng gia công, thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. DNNVV góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư , nguồn lực trong dân và sử dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương: Với việc phân bố rộng khắp, yêu cầu số lƣợng vốn ban đầu không nhiều nên các DNNVV có vai trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp nhân dân đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các DNNVV có thể dễ dàng huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè. Chính vì vậy, DNNVV đƣợc coi là phƣơng tiện có hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong nhân dân và biến nó thành các khoản vốn đầu tƣ.