Chương 1: Tổng quan đề tài: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và tính mới của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Khái niệm nghiên cứu ý định khởi nghiệp trực tuyến, Một số khung lý thuyết cơ sở, tổng hợp các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp trực tuyến từ lý thuyết cơ sở và các nghiên cứu trước, Mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu, Định nghĩa biến và thang đo, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin được tiến hành như thế nào, các kỹ thuật thống kê được sử dụng trong luận văn Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả xử lý dữ liệu từ kết quả khảo sát bao gồm kiểm định độ tin cậy của thang đo, kết quả phân tích hồi quy tuyến tính, kết quả kiểm định t-test và Anova Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Kết luận, đóng góp của đề tài, hạn chế của đề tài, đề xuất hàm ý để tăng cường ý định khởi nghiệp trực tuyến của sinh viên. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Mục đích của chương 2 là trình bày các khái niệm liên quan đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh và khởi nghiệp trực tuyến, cơ sở lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp trực tuyến, tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trực tuyến từ các nghiên cứu trước.
Khái niệm khởi nghiệp kinh doanh Hiện nay có nhiều định nghĩa về khởi nghiệp kinh doanh: - Theo Gupta, V., & Bhawe (2007) là quá trình lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó để tạo lập doanh nghiệp - Theo Yetisen et al. (2015) khởi nghiệp kinh doanh là quá trình thiết kế, thành lập và vận hành một doanh nghiệp mới.; Venkatraman (2000) Khởi nghiệp kinh doanh liên quan đến khả năng nhận ra cơ hội, đánh giá cơ hội khả thi hay không và quyết định tận dụng cơ hội. Khi nói đến Khởi nghiệp kinh doanh, có nhiều cách tiếp cận khác nhau và nhìn chung đều hướng đến việc tạo ra một công việc kinh doanh có thể mang lại lợi nhuận. Theo quan điểm của tác giả, Khởi nghiệp kinh doanh là việc hình thành ý tưởng kinh doanh và bắt đầu kinh doanh trên ý tưởng đó từ đó tạo ra một công việc do bản thân làm chủ và chịu trách nhiệm.
Khái niệm khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến Theo Matlay (2004), Khởi nghiệp trực tuyến là việc khởi tạo những công ty vận hành một phần hoặc toàn bộ trên hệ thống thương mại điện tử. Hệ thống thương mại điện tử gắn liền với hệ thống các trang Web, được sinh ra trong thời đại “dot. Những nhà khởi nghiệp trực tuyến là những nhà khởi nghiệp, những người đi tiên phong trong việc phát triển một công ty có hoạt động và hướng đến thị trường tự do trên Internet (Millman et al. Theo Manuel (2006), khởi nghiệp trực tuyến tạo ra các doanh nghiệp hoạt động trên Internet để bán sản phẩm và thực hiện các dịch vụ trực tuyến.
Ngoài các sản phẩm và dịch vụ mang tính thương mại, khởi nghiệp trực tuyến bao gồm việc 123doc 6 cung cấp các dịch vụ được trả tiền qua quảng cáo (Bolton, W. Ở Việt Nam, vẫn chưa có khái niệm cụ thể về khởi nghiệp trực tuyến, nhưng Theo Nghị định về thương mại điện tử số: 52/2013/NĐ-CP: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.” Ngoài ra cần phân biệt 2 khái niệm “khởi nghiệp số” (Digital entrepreneurship) và “khởi nghiệp trực tuyến” (Internet entrepreneurship). Khởi nghiệp số liên quan đến các sản phẩm như nhạc trực tuyến, e-book, phần mềm, ứng dụng. Một nhà khởi nghiệp số có thể tạo ra các sản phẩm của mình bằng các thiết bị công nghệ nhưng lại phân phối các sản phẩm của mình qua các kênh truyền thống.
Khởi nghiệp trực tuyến là một khái niệm tập trung vào các giao dịch kinh doanh và mô hình dựa trên nền tảng Internet (McKelvey, 2001). Tóm lại, khởi nghiệp trực tuyến là việc tạo ra các công ty và mô hình kinh doanh mà hoạt động của nó diễn ra một phần hoặc toàn bộ trên hệ thống Internet và dựa trên hệ thống Internet. Ý định khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến Ý định biểu hiện kết quả của các hoạt động nhận thức hướng đến một sự kiện hoặc đối tượng, được xem xét với các biểu hiện liên quan. Dựa trên lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB), Ajzen (1991) cho rằng hành vi được hình thành dưới sự kiểm soát của ý định.
Ý định chịu sự tác động của thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được chứng minh bằng cơ chế dự đoán mong muốn trở thành hiện thực (Bagozzi, 1992), theo đó dự định sẽ khuyến khích tư duy “phải làm và sẽ làm” từ đó tạo ra các hành vi liên quan. Mặc dù kết quả những phân tích tổng hợp cho rằng tương quan giữa ý định và hành vi không cao (Armitage & Conner, 2001), khả năng ước tính của ý định vẫn còn hiệu lực. Trong nghiên cứu của về khởi nghiệp, Krueger et al.
(2000) 123doc 7 cho rằng ý định có tác động tích cực đến hành vi, và chắc chắn khả năng giải thích bằng ý định thì tốt hơn điều kiện (ví dụ: vị trí việc làm) hoặc yếu tố cá nhân. Crant (1996) định nghĩa ý định khởi nghiệp là đánh giá về khả năng làm chủ một công việc kinh doanh, trong khi đó Krueger & Brazeal (1994) xem ý định khởi nghiệp là một cam kết lập ra một công việc kinh doanh. Theo Warshaw & Davis (1985), thì đánh giá qua ý định có khả năng dự báo tốt hơn cam kết, trong nghiên cứu này ý định nghĩa khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến là việc ước đoán về khả năng của cá nhân rằng họ sẽ bắt đầu và sở hữu một công việc kinh doanh trực tuyến của bản thân. Định nghĩa này không nhấn mạnh đến tính cam kết và không bao gồm ý định tiếp quản một công việc kinh doanh trực tuyến đã có sẵn hay tạo ra một công việc kinh doanh trực tuyến cho một người chủ khác.
Một số khung lý thuyết nền 2. Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) Lý thuyết hành vi dự định được phát triển bởi (Ajzen, 1991) được sử dụng phổ biến để giải thích và dự đoán nhiều kiểu hành vi. Theo TPB, Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi tác động đến ý định hành vi qua đó tác động đến hành vi thực sự. Mô hình được tóm tắt theo hình dưới.
Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định hành vi Hành vi thực sự Kiểm soát hành vi Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành vi dự định Nguồn: (Ajzen, 1991) Thái độ cá nhân được đo lường dựa trên niềm tin đối với các thuộc tính sản phẩm và được đánh giá chủ quan bởi các cá nhân. Thái độ được cấu thành từ: nhận thức, cảm xúc (sự ưa thích) và xu hướng thực hiện hành vi., & Ajzen 123doc 8 (1975) cho rằng quyết định phụ thuộc vào khả năng mang lại lợi ích của các thuộc tính và mức độ nhiều ít khác nhau. Chuẩn chủ quan là sức ép xã hội về nhận thức khi tiến hành thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Chuẩn chủ quan được đo lường bằng sự tác động, thúc đẩy thực hiện hoặc không thực hiện của các tác nhân gây ảnh hưởng và niềm tin về sự ảnh hưởng đó.
Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và thực hiện hành vi có bị kiểm soát, hạn chế hay không. Nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến việc thực hiện hay không thực hiện hành vi. Việc dự đoán hành vi có xảy ra hay không phụ thuộc vào ý định và nhân tố kiểm soát hành vi. TPB được áp dụng thành công để dự đoán và giải thích nhiều hành vi khác nhau như lựa chọn đánh giá, vi phạm giao thông,.
Lý thuyết TPB cung cấp lý thuyết chi tiết liên quan đến việc hợp nhất nhiều cấu trúc và định nghĩa về mỗi cấu trúc. TPB cho biết nếu một cá nhân nhìn nhận một hành vi là tốt, xã hội có chung cái nhìn đó và bản thân cá nhân chắc chắn có điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi thì hành vi đó càng có khả năng được thực hiện. Nếu cá nhân có sự kiểm soát cao đối với hành vi thì càng có động lực thực hiện hành vi. Mô hình TPB khắc phục được hạn chế của TRA (Theory of Reasoned Action-Lý thuyết hành động hợp lý) vì giải thích được hành vi theo thói quen và theo kế hoạch.
Tuy nhiên, mô hình vẫn chưa giải thích được hành vi vô thức vì TPB dựa trên giả thiết rằng mọi người đều có suy nghĩ hợp lý và đưa ra những quyết định hợp lý dựa trên những thông tin sẵn có. Thực tế cho thấy chỉ 40% những biến đổi về ý định được giải thích bằng TPB (Ajzen, 1991), điều này có nghĩa còn những yếu tố khác ảnh hưởng đến ý định ngoài ba nhân tố trên. Mô hình chấp nhận công nghệ (Theory of Technology Acceptance Model - TAM) Dựa trên mô hình hành vi dự định (TPB) của Ajzen, Davis (1989) đã phát triển mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) để dự đoán hành vi trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Theo đó Nhận thức về tính hữu dụng (Perceived Usefulness) và Nhận thức về tính dễ dàng sử dụng (Perceived Ease of Use) tác động đến quyết định sử dụng các hệ thống và sản phẩm công nghệ thông tin.
Nhận thức về tính hữu dụng chỉ xác suất bản thân người tiêu dùng tin rằng việc sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin có thể tăng năng suất lao động của họ đối với cùng một công việc cụ thể. Nhận thức về tính dễ dàng sử dụng chỉ xác suất chủ quan người tiêu dùng tin rằng họ không phải nỗ lực trong lúc sử dụng sản phẩm. Quan điểm sử dụng được định nghĩa là cảm giác tích cực hoặc tiêu cực về việc thực hiện một hành vi mục tiêu (Fishbein, M. Dự định sử dụng là nhận thức về xu hướng hay khả năng quyết định sử dụng dịch vụ hay hệ thống.
Hành vi sử dụng là mức độ hài lòng, khả năng sẵn sàng tiếp tục sử dụng hay mức độ cũng như tần suất sử dụng dịch vụ/hệ thống trong thực tế.