Chương 1: Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chương 2: Thực trạng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành Phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành Phố Hà Nội. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN VAY NGÂN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Theo luật doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Theo khoản 1, điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 thì DNNVV được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).” Vậy khái niệm DNNVV được sử dụng trong khóa luận này là: DNNVV là tổ chức sản xuất kinh doanh có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật và có quy mô giới hạn theo những tiêu chí nhất định, gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đặc điểm Mỗi quy mô doanh nghiệp khác nhau sẽ có những đặc điểm khác nhau gắn với quy mô doanh nghiệp.
Theo đó, Trần Quốc Hoàn (2018) đã liệt kê một số đặc điểm của DNNVV như sau: Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn hạn chế, đa phần là vốn tự có và khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thấp. Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu và số vốn tự có của chủ sở hữu,… do đó quy mô vốn của DNNVV thường rất hạn chế. 8 Do hạn chế về quy mô vốn nên DNNVV có những bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong việc tiếp cận các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Với số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, yêu cầu đổi mới nâng cấp thiết bị, đầu tư công nghệ mới ngày càng tăng dẫn đến việc DNNVV dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn, trong khi đó việc tiếp cận với các nguồn tài chính đặc biệt là nguồn vốn tín dụng ngân hàng thường gặp phải rất nhiều khó khăn do các NHTM thường đòi hỏi các điều kiện về TSĐB, kế hoạch sản xuất kinh doanh và các DNNVV thường không đủ tài sản thế chấp khi vay vốn, trong khi đó khả năng lập hồ sơ vay vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DNNVV lại hạn chế,… Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có lĩnh vực đầu tư sản xuất kinh doanh đa dạng.
Các DNNVV thường có quy mô nhỏ về vốn hay số lượng lao động, mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý đào tạo không lớn do đó DNNVV có thể dễ dàng thành lập và chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với xu hướng của nền kinh tế, bên cạnh đó các DNNVV còn có khả năng tận dụng tốt những nguồn lực sẵn có, linh hoạt trong việc khai thác sử dụng những ưu thế đặc thù của các địa phương tạo điều kiện cho các DNNVV có thể hoạt động trên mọi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Thứ ba, DNNVV có số lượng lao động hạn chế, lao động có trình độ và tay nghề cao không nhiều. DNNVV có đặc điểm hạn chế về quy mô, do đó nhu cầu về lao động là không lớn, các DNNVV thường sử dụng ít lao động và các lao động trong DNNVV thường có trình độ chuyên môn ở mức chưa cao. Một phần do hạn chế về mặt tài chính nên các DNNVV thường không đủ khả năng để thuê nhiều lao động và lao động có trình độ chuyên môn, bên cạnh đó khả năng phát triển và chế độ phúc lợi tại các DNNVV cũng thường hạn chế do đó không hấp dẫn được các lao động có trình độ chuyên môn cao.
9 Thứ tư, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp năng động nhưng năng lực quản trị chưa cao. Bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp khá tinh gọn. Do quy mô nhỏ, hạn chế về mặt tài chính do đó các DNNVV thường không có một bộ máy quản lí riêng biệt, thường bộ máy quản lí khá tinh gọn chỉ do một mình chủ doanh nghiệp điều hành, trực tiếp xử lí và triển khai mọi công việc trong doanh nghiệp. Điều này có thể giúp DNNVV tiết kiệm được chi phí nhân công, đẩy nhanh tiến độ xử lí công việc nhanh chóng hơn do công việc được xử lí trực tiếp bởi chủ doanh nghiệp và người lao động, tuy nhiên do một mình chủ doanh nghiệp đảm đương mội công việc do đó dẫn đến việc quá tải, không kiếm soát được toàn bộ công việc và mức độ chuyên môn hóa không cao.
Vai trò Với số lượng ngày càng tăng, khối DNNVV ngày càng cho thấy những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế xã hội. Cụ thể: Thứ nhất, DNNVV giải quyết vấn đề việc làm, giảm bớt áp lực về tỉ lệ thất nghiệp và tạo ra thu thập cho người lao động Với số lượng lớn, hoạt động đa dạng trên tất cả các ngành nghề, quy mô hoạt động hạn chế và trình độ công nghệ phù hợp với các lao động thủ công vì vậy các DNNVV có nhu cầu về lao động lớn, sử dụng được nhiều lao động đặc biệt là các lao động phổ thông với trình độ tay nghề không cao. Do vậy các DNNVV đã góp phần giải quyết nhu cầu việc làm, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp và tạo thu nhập cho người lao động, đặc biệt là lao động địa phương ở các vùng kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao. Thứ hai, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các tầng lớp, vùng miền DNNVV với quy mô nhỏ, linh hoạt, phù hợp cho phát triển kinh tế dân doanh cùng với khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đặc biệt là lao động địa phương.
Vì vậy DNNVV luôn được xem là động lực kinh tế quan trọng để thu hẹp khoảng cách về chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Mặt khác, tại các địa phương, các DNNVV có lợi thế về việc nắm rõ được các điều kiện tự nhiên, thế mạnh của địa phương từ đó lựa chọn phương 10 hướng sản xuất kinh doanh, thương mại các sản phẩm phù hợp từ đó tham gia vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp quy mô lớn, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, đồng thời thúc đẩy sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt, dễ thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu. Thứ ba, DNNVV có đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội và nguồn thu cho ngân sách nhà nước Số lượng DNNVV chiếm sô lượng lớn trong nền kinh tế và có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh, trong tất cả các lĩnh vực và địa phương, do đó DNNVV đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia nói chung và mỗi địa phương nói riêng, hàng năm khối DNNVV cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hóa, dịch vụ đáng kể và làm tăng GDP cho nền kinh tế. Bên cạnh đó hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV phát triển sẽ góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế, góp phần vào thực hiện tốt các công tác xã hội.
Thứ tư, DNNVV góp phần quan trọng trong thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử dụng hiệu quả các nguồn lực có sẵn của địa phương Với quy mô vốn đầu tư nhỏ, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, dễ khởi nghiệp, các DNNVV đã góp phần thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế thông qua việc huy động vốn của người thân, bạn bè,…Bên cạnh đó số lượng DNNVV đông đảo và phân bố khắp nơi do đó sẽ khai thác hiệu quả được các tiềm năng và tận dụng được nguồn lao động của các địa phương, đặc biệt là ở những nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi hoặc chưa chú trọng vào đầu tư cơ sở hạ tầng nơi mà các doanh nghiệp lớn khó có thể hoạt động giúp khai thác triệt để các nguồn lực và phát triển cân bằng giữa các vùng miền. VỐN VAY NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm vốn vay ngân hàng Căn cứ luật Các Tổ chức Tín dụng 2010 thì “Cấp tín dụng” được hiểu là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử 11 dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh và các nghiệp vụ tín dụng khác. Theo đó tín dụng ngân hàng bao gồm các nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng - Sự chuyển nhượng mang tính tạm thời, trong một thời gian nhất định được quy định trong hợp đồng tín dụng - Nguyên tắc của sự chuyển nhượng là có kèm theo chi phí, người vay sẽ phải hoàn trả lại cả gốc và lãi đúng hạn.
Vậy khóa luận thống nhất khái niệm vốn vay ngân hàng được hiểu là khoản tiền mà NHTM cho DNNVV vay để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và DNNVV phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn lại cho phía NHTM.