phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 4 phần: Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu, và cơ sở lý luận về chính sách đối với đầu tƣ thiên thần tại Trung Quốc Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng chinh sách đối với đầu tƣ thiên thần cho phát triển startup tại Trung Quốc Chƣơng 4.
Hàm ý cho Việt Nam để tăng cƣờng đầu tƣ thiên thần vào phát triển startup 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ THIÊN THẦN TẠI TRUNG QUỐC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về lý thuyết Xuất hiện lần đầu tiên năm 1978, cụm từ đầu tƣ thiên thần lần đầu tiên đƣợc định nghĩa bởi Wiliamm Wetzet (Đại học New Hampshire, Mỹ) khi ông nghiên cứu về cách thức các startup thu hút vốn đầu tƣ. Ông cũng là ngƣời đặt nền tảng cho lý thuyết về đầu tƣ thiên thần kể từ nghiên cứu năm 1983.
Tiếp nối Wetzet, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào làm rõ các đặc điểm mô tả về nhà đầu tƣ thiên thần, sự tham gia và vai trò của họ trong quá trình đầu tƣ. Wong từng chỉ ra rằng nhà đầu tƣ thiên thần đƣợc biết đến nhƣ những cá nhân có giá trị ròng cao, họ thƣờng đầu tƣ vào các công ty nhỏ, công ty tƣ nhân (Wong et al. Những công ty này thƣờng có rủi ro lớn nhƣng tăng trƣởng trong giai đoạn đầu khởi nghiệp tƣơng đối cao (Frear et al. Trong giai đoạn khởi nghiệp, đầu tƣ thiên thần đƣợc coi là vòng tài chính thứ 2 sau vốn nội tại của các start up.
Các nhà đầu tƣ thiên thần sử dụng những kinh nghiệm kinh doanh của bản thân để tƣ vấn cho các startup mà họ rót vốn đầu tƣ (Politis, 2008). Ngày nay, ngƣời ta thừa nhận rằng, các nhà đầu tƣ thiên thần không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc rót vôn đầu tƣ mà còn cung cấp các kỹ năng kinh doanh, mạng lƣới của cá nhân họ cho các doanh nghiệp start up trong quá trình phát triển (Mason, 2007; Kelly, 2007). Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các nhà đầu tƣ thiên thần mang đến nguồn vốn tài chính quan trọng nhất cho các công ty khởi nghiệp tầm trung. Rất nhiều nhà nghiên cứu đã có gắng tìm hiểu về thị trƣờng vốn rủi ro không chính thức bằng cách xác định đặc điểm của các nhà đầu tƣ thiên thần nhƣ tuổi tác, giới tính, nền tảng kinh doanh, lƣợng tài sản…; đặc điểm đầu tƣ nhƣ số tiền đầu tƣ cho mỗi thƣơng vụ, mức độ thƣờng xuyên đầu tƣ, lĩnh vực đầu tƣ, đối tƣợng đầu tƣ đang ở giai đoạn phát triển nào…; quá trình đầu tƣ nhƣ nguồn thông tin, tìm đối tác, thảo hợp đồng, vai trò trong công ti nhận đầu tƣ…; và cuối cùng là động lực đầu tƣ 4 z của họ bao gồm các đồng lực tài chính và phi tài chính.
Đối với doanh nghiệp start up đƣợc rót vốn, các nhà đầu tƣ thiên thần thƣờng nắm giữ vai trò chủ chốt nhƣ thành viên ban giám đốc (Gaston and Bell, 1988; Postma and Sullivan, 1990). Họ có khuynh hƣớng rót vốn, đầu tƣ vào giai đoạn bắt đầu khởi nghiệp. Các start up đƣợc cấp vốn thƣờng nằm trong khu vực địa lý gần và quen thuộc đối với nhà đầu tƣ thiên thần (Freear,1994). Nghiên cứu của Politis, Freear, Gaston, Bell, Postma, Sullivan chỉ ra rằng phần lớn các nhà đầu tƣ thiên thần là những ngƣời đàn ông trung niên, có nền tảng học thức, kinh nghiệm kinh doanh làm chủ hoặc quản lý (Politis, 2008).
Sự tham gia của các nhà đầu tƣ thiên thần trong hoạt động kinh doanh thể hiện ở một số phƣơng diện nhƣ quản lý, giám sát, cố vấn. Các nghiên cứu của Mason, Harrison, Prahalad, Hamel, Barney chỉ ra rằng các nhà đầu tƣ thiên thần đóng vai trò chiến lƣợc trọng các doanh nghiệp start up. Vai trò chiến lƣợc của các thiên thần thể hiện ở việc đƣa ra các chiến lƣợc kinh doanh, tang cƣờng hệ thống quản lsy sẵn có của doanh nghiệp, đƣa ra lời khuyên về cách thức, thời gian, phƣơng pháp để tạo gia giá trị cho doanh nghiệp. Kiểu tham gia này thƣờng tới từ các thiên thần có nhiều kinh ngiệm, đang làm việc hoặc làm việc trong lĩnh vực liên quan tới các dự án đang phát triển.
Về mặt lý thuyết, việc cung cấp bí quyết kinh doanh và kinh nghiệm quản lý của các thiên thần thƣờng gắn với các đối số của doanh nghiệp nhƣ tài nguyên công ty, nguồn lực nội bộ vững chắc là các nhân tố quan trọng để tạo nên lợi thế cạnh tranh (Prahalad and Hamel 1990; Barney, 1991; Teece et al. Bí quyết kinh doanh, chuyên môn quản lý đƣợc cung cấp bởi các nhà đầu tƣ thiên thần có kinh nghiệm đƣợc coi là nguồn lực chiến lƣợc quan trọng của các start up. Trong các nghiên cứu khác, Ehrlich và Politis chỉ ra rằng các nhà đầu tƣ thiên thần đóng vai trò giám sát trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự giám sát này xuất phát từ việc chủ sở hữu vốn, chủ đầu tƣ và nhân viên các doanh ngiệp thƣờng có hành vi che đậy những khoản đầu tƣ sai trái, không hợp lý của mình (Van Osnabrugge 2000).
Một cách phổ biến để thực hiện hoạt động giám sát này của các nhà 5 z đầu tƣ thiên thần là thành lập, xây dựng hệ thống thông tin kế toán phù hợp (Mitchell, 1996) hoặc tham gia vào ban giám đôc trong các dự án đầu tƣ (Gabrielsson & Huse, 2002). Hoạt động giám sát này cho phép nhà đầu tƣ kiểm soát và bảo vệ tài sản của công ty, rang bộc các cấp quản lý chịu trách nhiệm cho hành động của họ, để đảm bảo sự sống còn và thành công của doanh nghiệp trong tƣơng lai. Freear, Mason và Harrison cũng chỉ ra rằng, nhà đầu tƣ thiên thần còn đóng vai trò cố vấn trong các doanh nghiệp start up mà họ rót vốn vào. Sự cố vấn này thể hiện trong mối quan hệ của các thiên thần giàu kinh nghiệp với các chủ doanh nghiệp ít kinh nghiệm Freear 1997; Mason & Harrison, 1997).
Các chƣơng trình hỗ trợ khởi nghiệp, tọa đàm, hội thảo đƣợc tổ chức với tần xuất ngày một nhiều. Thập kỷ qua đã chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng và sâu sắc các hình thức, phƣơng tiện tài trợ cho các startup trên toàn thế giới. Trong khi đầu tƣ mạo thƣờng chỉ tập trung tại các trung tâm thƣơng mại lớn nhƣ Hoa Kỳ thì đầu tƣ thiên thần lại có xu hƣớng ngày một gia tăng ở nhiều quốc gia trên thế giới (Wilson và Silva, 2013). Các công trình nghiên cứu về chính sách thu hút đầu tƣ thiên thần cho phát triển startups tại Trung Quốc Không giống nhƣ hoạt động đầu tƣ thiên thần ở các nƣớc Phƣơng Tây, đầu tƣ thiên thần ở Trung Quốc bắt đầu khá chậm nên những nghiên cứu về vấn đề thiên thần tại Trung Quốc chƣa thực sự nở rộ.
Trong nghiên cứu “Financing Entrepreneurship and Innovation in China: A Public Policy Perspective” Lin William Cong và cộng sự đã chỉ ra sự chi phối của chính sách công Trung Quốc trong việc các doanh nghiệp tiếp cận thị trƣờng vốn đồng thời đƣa ra khung nghiên cứu, đánh giá những thách thức liên quan tới việc tài trợ, đầu tƣ cho các doanh nghiệp Trung Quốc.Thị trƣờng đầu tƣ thiên thần chính thức những năm gần đây của Trung Quốc đang phát triển một cách nhanh chóng, thu hút cả nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và nhà đầu tƣ trong nƣớc. Cùng với sự gia tăng của các tổ chức thiên thần, chính phủ đã ban hành các chính sách để thúc đẩy hoạt động đầu tƣ này. 6 z Báo cáo Global enterprise index của GEID đã phân tích độ tin cậy của Trung Quốc và nhóm 8 nhân tố ảnh hƣởng tới thu hút vốn thiên thần cho khởi nghiệp tại Quốc gia này một cách trực quan, từ đó đƣa ra thứ hạng của Trung Quốc trên bảng xếp chỉ số khởi nghiệp toàn cầu, điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình thu hút vốn đầu tƣ tại đây. Các công trình nghiên cứu về chính sách đầu tƣ thiên thần tại Việt Nam Để thực hiện ba đột phá chiến lƣợc, bao gồm thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực, Đảng và Chính Phủ luôn chủ trƣơng, định hƣớng khuyến khích phát triển startup đổi mới sang tạo (ĐMST), nhƣng cho đến nay, sức hút của Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ thiên thần không có gì nổi bật, hay nói đúng ra, nhà đầu tƣ thiên thần không mặn mà với các start up Việt Nam.
Tác giả Phan Hoàng Liên, Từ Minh Hiệu - Cục phát triển thị trƣờng và khoa học công nghệ Bộ khoa học công nghệ chỉ ra rằng ở Việt Nam vẫn chƣa có hành lang pháp lý thuận lợi cũng nhƣ những chính sách đặc thù dành cho các nhà đầu tƣ cho startup. Cùng chung nhận định, bà Phan Hoàng Lan, cán bộ Cục Phát triển thị trƣờng và doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) cũng cho rằng trong bối cảnh Việt Nam chƣa thành lập quỹ đầu tƣ mạo hiểm cũng nhƣ chƣa xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho đầu tƣ mạo hiểm thì việc kêu gọi vốn từ các nhà đầu tƣ thiên thần là biện pháp khả thi nhất đối các startup (DNKN) Việt Nam. Tuy nhiên, sự tham gia của các nhà đầu tƣ thiên thần mang đến những rủi ro đối với DNKN vì vậy cần có một quy định, chế tài, chính sách rõ ràng. Trong một nghiên cứu khác, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chỉ ra rằng: năm 2017, Việt Nam có 3.000 doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; trong đó có tới 80% các dự án khởi nghiệp thất bại.
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp này chƣa nhận thức rõ về các vấn đề pháp lý, chọn sai loại hình doanh nghiệp, thiếu hợp tác, xác định sai phƣơng pháp khởi nghiệp và không kêu gọi đƣợc nguồn vốn đầu tƣ. Thêm nữa, ở Việt Nam, các nhà đầu tƣ thƣờng đầu tƣ vào các dự án ngắn hạn, trong khi dự án dài hạn ít đƣợc quan tâm. Về phía DNKN thì không có khả năng định giá đúng ý tƣởng công nghệ của mình, dẫn đến việc thẩm định giá quá thấp thì bị thiệt, 7 z mà định giá quá cao thì không kêu gọi đƣợc vốn. Để giải quyết vấn đề trên, bên cạnh một hành lang pháp lý rõ ràng Việt Nam cần chú trọng hơn vào việc đào tạo yếu tố con ngƣời.
Tác giả Nguyễn Đình Đạt (2018) cho rằng Việt Nam vẫn có tình trạng chính quyền các địa phƣơng không cho phép hay hạn chế việc thử nghiệm các phát minh của ngƣời dân, điều này gây chán nản cho những ngƣời sáng chế.