Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY LUẬT HỢP DANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH 1. Khái quát về công ty luật hợp danh 1. Nhận diện công ty luật hợp danh Ở Việt Nam lâu nay vẫn sử dụng các cụm từ "nghề luật sư", "nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề luật sư". Thực ra gọi như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ.
Bởi vì, "luật sư" là một danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ một nghề. Trong tiếng Anh người ta dùng "Lawyer" (luật sư) và "practice law" (hành nghề luật). Tuy nhiên, việc sử dụng các cụm từ "nghề luật sư" hay "nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề luật sư" là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, có thể chấp nhận được, bởi vì nếu dùng cụm từ "nghề luật" thì e rằng theo cách hiểu của ngôn ngữ Việt Nam sẽ quá rộng, không phải chỉ là việc bào chữa, biện hộ trước tòa án và làm tư vấn pháp luật (cung cấp dịch vụ pháp lý) của luật sư. Theo thói quen sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như trong văn viết thì cụm từ "nghề luật sư" có thể được chấp nhận, cũng giống như nói "kiến trúc sư" và nghề "kiến trúc sư", "thày thuốc" và "nghề thày thuốc" v.
Pháp lệnh luật sư năm 2001 chính thức chấp nhận các cụm từ "nghề luật sư", "nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề luật sư". Hiện nay theo quy định của Luật luật sư năm 2006 thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: (i) Văn phòng luật sư; (ii) Công ty luật. Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn [14, Khoản 1 Điều 34]. Tuy nhiên, ở nhiều nước (Hy Lạp, Arhentina, Italia, Mexico, Đài Loan, Brazil, Thuỵ Sỹ, Nhật…), hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn không được chấp nhận vì hình thức này không phù hợp với nghề luật sư là phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động nghề nghiệp của mình.
10 Luật sư là nhà chuyên nghiệp, có trách nhiệm cao trước khách hàng cho nên nghề luật sư trên thế giới chủ yếu dưới hai hình thức là Công ty hợp danh và Văn phòng cá nhân. Công ty luật hợp danh là một trong các tổ chức hành nghề luật sư. Công ty luật hợp danh có những nét đặc thù cơ bản sau đây: Thứ nhất, công ty luật hợp danh có tư cách pháp nhân. Công ty LHD là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Công ty luật đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên. Công ty luật do luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty [14, Khoản 1 Điều 35]. Về điểm này có thể nhận thấy: việc đăng ký hoạt động của công ty LHD khác việc đăng ký thành lập đối với các công ty thông thường (công ty thương mại). Các công ty này phải thực hiện việc đăng ký thành lập tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch Đầu tư cấp tỉnh.
Thứ hai, thành viên công ty LHD phải là luật sư. Luật sư phải đáp ứng các điều quy định về năng lực hành vi dân sự, về trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp.Tuy nhiên, điều kiện để trở thành luật sư theo quy định của pháp luật Việt Nam có những điểm khác so với quy định của một số quốc gia khác. Theo quy định của Nhật Bản, người muốn trở thành luật sư trước hết phải tham gia kỳ thi quốc gia. Kỳ thi này được mở cho bất kỳ ai không kể là người tốt nghiệp đại học luật hay chưa có bằng đại học luật, không yêu cầu phải có quốc tịch Nhật Bản, không có bất kỳ một giới hạn nào về bằng cấp, độ tuổi hay giới tính.
Tuy nhiên, đây là một kỳ được đánh giá là khó nhất trong các kỳ thi của Nhật Bản và tỷ lệ đỗ rất thấp nên trên thực tế phần lớn các thí sinh là cử nhân luật. Năm 2005, tỷ lệ thí sinh đỗ kỳ thi này là 11 3. Sự khác biệt lớn nhất trong việc đào tạo nghề ở Nhật bản là sau khi đỗ kỳ thi quốc gia, học sinh học tại Viện Đào tạo và Nghiên cứu pháp luật trong thời gian 1,5 năm và được nhận tiền lương từ chính phủ. Viện là cơ quan trực thuộc Toà án tối cao.
Trong thời gian này, học viên được học lý thuyết đồng thời được làm việc với toà án, viện kiểm sát và các luật sư. Chương trình học tại Viện là chương trình chung cho cả thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư. Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn.
Quy định này cũng là một điểm khác so với thành viên công ty hợp danh thông thường. Công ty hợp danh thông thường ngoài thành viên hợp danh, công ty có thể có thành viên góp vốn [12, Điều 172]. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập.
Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu [14, Khoản 3 Điều 34]. Thứ ba, về trách nhiệm. Công ty hợp danh thông thường được áp dụng chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty, thành viên hợp danh chịụ trách nhiệm vô hạn và thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn. Công ty luật hợp danh là một công ty hợp danh đặc thù, do đó, các luật sư là thành viên hợp danh sẽ chịu chế độ trách nhiệm vô hạn.
Đối với công ty luật TNHH thì sẽ được áp dụng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, nếu luật sư hành nghề với tư cách cá nhân thì phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động hành nghề và hoạt động theo loại hình hộ kinh doanh cá thể (trách nhiệm vô hạn) [14, Khoản 1 Điều 49]. 12 Công ty luật thực hiện hành nghề luật sư trong nước và có thể hành nghề luật sư thông qua việc cử luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài theo yêu cầu của khách hàng. Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài phải tuân theo quy định của Luật Luật sư và quy định khác của pháp luật có liên quan [14, Điều 44].
Sự tương đồng và khác biệt giữa công ty luật hợp danh với các tổ chức hành nghề luật sư khác Tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: Văn phòng luật sư; Công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH [14, Đ. Công ty luật hợp danh, Văn phòng luật sư và công ty luật trách nhiệm hữu hạn có những điểm tương đồng và sự khác biệt cơ bản sau đây: 1. Những điểm tương đồng. Một là, chỉ những người là luật sư mới được tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư.
Người muốn trở thành luật sư phải là những người có bằng cử nhân luật, đáp ứng các điều kiện về sức khỏe, năng lực, phẩm chất theo quy định của pháp luật. Họ cần phải trải qua thời gian đào tạo nghiệp vụ luật sư với thời gian 12 tháng [15]. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư [15, Điều 12]. Người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư đăng ký tập sự tại các tổ chức hành nghề luật sư (Văn phòng luật sư, Công ty luật) với thời gian là 12 tháng (trừ trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự).
Thời gian tính tập sự bắt đầu từ ngày đăng ký tập sự tại Đoàn luật sư (nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư cho người tập sự). Kết thúc thời gian tập sự, những người này tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Liên đoàn luật sư Việt Nam tổ chức trên cơ sở lập danh sách và đề nghị của Đoàn luật sư. Hội đồng kiểm tra cấp Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư cho những người đủ điều kiện. Giấy 13 chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư là cơ sở pháp lý để Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam quyết định cấp Giấy chứng chỉ hành nghề luật sư trên cơ sở đề nghị của những người đáp ứng các điều kiện.
Hiện nay, số người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư tăng lên 11. Sau khi được cấp Giấy chứng chỉ hành nghề luật sư, các cá nhân lựa chọn gửi hồ sơ tham gia vào một Đoàn luật sư. Ban Chủ nhiệm đoàn luật sư ra quyết định kết nạp người đó vào Đoàn luật sư khi có đầy đủ hồ sơ hợp lệ, đồng thời đề nghị Liên đoàn luật sư xem xét, cấp thẻ luật sư cho người gia nhập Đoàn luật sư [15, điều 20]. Hai là, Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà luật sư đó là thành viên.
Quyền thành lập doanh nghiệp là một trong quyền tự do kinh doanh, quyền con người. Tuy nhiên, việc quy định một luật sư chỉ được phép thành lập một tổ chức hành nghề luật sư có lẽ xuất phát từ bản chất pháp lý của loại hình doanh nghiệp này hoặc tính chịu trách nhiệm của luật sư. Tính đến tháng 9/2014, đã có 9.231 người đã được Liên đoàn luật sư Việt Nam cấp Thẻ luật sư [2, tr4]. Tuy nhiên, một điều lưu ý rằng: không phải bất kỳ cá nhân nào khi đã trở thành luật sư đều có thể thành lập hoặc tham gia thành lập ngay tổ chức hành nghề luật sư.
Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức [15, Điểm a, khoản 3]. Những điểm khác biệt Thứ nhất, về mô hình. Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.